THƯỢNG ĐƯỜNG
- PHẦN I - THƯỢNG ĐƯỜNG
- 1. Tập quán thế gian
- 2. Quán Thế Âm, Ngàn Tay Ngàn Mắt.
- 3. Vô Vị Chân Nhân
- 4. Hai Vị Đường Chủ
- 5. Đại ý Của Phật Pháp
- 6. Chết Chìm Suối Sâu
- 7. Duy Ma Cật Và Phó Đại Sĩ
- 8. Ly Gia
- 9. Ba Câu
1. Tập quán thế gian
Quan phủ Vương Thường Thị và các quan mời sư thượng đường. Sư nói: -Hôm nay sư núi này, vạn bất đắc dĩ, thuận theo lòng người lên tòa giảng này. Nếu lấy tư cách là môn hạ tổ tông để hoằng dương việc lớn thì mở miệng chẳng được, chân các ông cũng không có chỗ mà đứng. Hôm nay sư núi này do Thường Thị cố mời, không dám dấu cương tông, chẳng biết có vị tướng nào bầy trận, phất cờ tác chiến không? Nếu có hãy nói cho đại chúng nghe coi sao! Có ông Tăng hỏi: -Thế nào là đại ý của Phật pháp? Sư hét lên, ông tăng lạy, sư nói: -Ông tăng này có thể nói chuyện được đây. Có ông tăng khác hỏi: -Sư xướng gia khúc, tông phong nào? -Tôi ở nơi Hoàng Bá, ba lần hỏi ba lần bị đánh. Ông tăng do dự, sư bèn hét sau đó đánh, nói rằng: -Chẳng lẽ đóng cọc vào hư không hay sao? Có tọa chủ hỏi: -Ba thừa, mười hai phần giáo chẳng phải là để làm sáng tỏ Phật tánh sao? -Cỏ hoang chưa từng cuốc. -Phật há dối người ư? -Phật ở đâu? Tọa chủ không đáp được. Sư nói: -Trước mặt Thường Thị, định lừa lão tăng hả? Lui mau, lui mau! Đừng làm trở ngại người khác muốn hỏi. Hôm nay có pháp hội này vì một việc lớn. Có ai muốn hỏi gì thì hỏi mau đi. Vừa mở miệng đã không dính dáng rồi. Sao vậy? Chẳng thấy Đức Thế Tôn nói “Pháp lìa văn tự, chẳng thuộc nhân, chẳng thuộc duyên”. Vì các ông chưa đủ tin cho nên hôm nay còn dây dưa e làm trở ngại sự giác ngộ Phật tánh của Thường Thị và các quan, chi bằng hãy lui. Sư hét lên một tiếng và tiếp:
-Kẻ thiếu lòng tin chẳng có ngày xong, đứng đã lâu rồi, trân trọng.
Chú Thích:
-Thường Thị: Chỉ là một tước danh dự, Vương Thường Thị YANAGIDA đoán là Vương Thiệu Ý, giữ chức Tán Kỵ Thị từ 857-866. -Việc lớn: lý do Đức Phật xuất thế, dẫn ở Chương II của Diệu Pháp Liên Hoa Kinh. -Hoàng Bá: sư phụ của Lâm Tế. -Tọa chủ: Ông tăng nghiên cứu kinh điển, không thuộc Thiền tông. -Thượng đường: Nghĩa đen là lên tòa giảng, trong tập lục này có nghĩa là bài giảng buổi sáng thường ngắn, gọn. Các thiền sinh đều đứng nghe, có vấn đề có thể nêu ra. Về sau vì có nhiều Thiền tăng nên quy định mỗi tháng có năm buổi thượng đường. Muốn biết rõ hơn xin xem Thiền Môn Quy Thức.
*Cỏ hoang chưa từng cuốc: Con người vốn có Phật tánh không cần gì phải học kinh điển (Burton Watson).
*Là trí thức cũng tốt, là chân lý cũng tốt, là cỏ hoang trên đỉnh núi. Chỉ có những người dõng cảm lên tới đỉnh mới thưởng thức được cái thú vị của cảnh trí hoang sơ. (Học Thành cư sĩ).
*Ông tăng do dự: Chứng tỏ còn suy nghĩ, không tự tin, câu trả lời phải ngay tức khắc (Paul Demiéville).
*Đóng cọc vào hư không: Những câu hỏi phổ thông không thể biện biệt được chân lý, đều vô ích nhất là đến từ một ông tăng do dự.
🌲🌲🌲
2. Quán Thế Âm, Ngàn Tay Ngàn Mắt
Nhân một ngày đến Hà Bắc, phủ chủ Vương Thường Thị mời Lâm Tế thượng đường nói pháp. Ma Cốc bước ra hỏi:
-Quán Thế Âm, ngàn mắt ngàn tay, mắt nào là chánh? -Quán Thế Âm ngàn mắt ngàn tay, mắt nào là chánh, nói mau! nói mau! Ma Cốc kéo sư xuống, ngồi vào chỗ của sư. Sư lại gần hỏi: -Ông khỏe không? Ma Cốc định nói, sư kéo Ma Cốc ra, ngồi vào chỗ cũ. Ma Cốc đi ra, sư cũng hạ đường.
Chú Thích: -Ma Cốc: thiền sư Ma Cốc lai lịch không rõ. Ma Cốc là tên một ngọn núi ở Bồ Châu. -Hà Bắc: phủ Hà Bắc cũng gọi là Hà Dương. -Hạ đường: xuống tòa giảng. -Quán Thế Âm ngàn mắt ngàn tay, mắt nào là chính?: trong ngàn mắt, mắt nào cũng là chính cả. -Ông khỏe không?: nguyên văn là bất thẩm (不審), nghĩa là không hiểu. Thực ra, đây là tiếng chào hỏi của các Thiền gia khi gặp mặt. Bản dịch ra Bạch thoại của Bồ Đề Học Xã là nễ hảo (你好).
- Câu hỏi của Ma Cốc là một cái bẫy. Lâm Tế biết vậy nên không bị rơi vào và hỏi ngược lại. Ma Cốc thay vì trả lời lại chiếm chỗ của Lâm Tế:vai trò chủ khách đảo ngược. Lâm Tế chiếm lại chỗ của mình chỉ rằng chủ khách không khác (Paul Demiéville).
3. Vô Vị Chân Nhân
Sư thượng đường nói: -Trong cục thịt đỏ của các ông có một vô vị chân nhân thường từ cửa mặt ra vào mà các ông chẳng biết, kẻ chưa chứng hãy xem thử coi. Có một ông tăng bước ra hỏi: -Vô vị chân nhân là gì? Sư bước xuống, túm lấy ông bảo:
-Nói đi! Nói đi! Ông tăng mở miệng định nói, sư bèn xô ra và bảo: -Vô vị chân nhân là cái gì ư? Là que cứt khô! Nói rồi về phòng phương trượng.
Chú Thích:
-Vị: để chỉ một chức vị nào đó. Vô vị: chỉ một người không có địa vị nào cả. -Chân nhân: danh từ mượn của Đạo giáo, trong các bản dịch cổ dùng để chỉ Phật, La Hán. -Que cứt khô: thời cổ dùng que gỗ thay cho giấy vệ sinh ngày nay. -Phương trượng: vị trụ trì một ngôi chùa. Xưa cư sĩ Duy Ma Cật ở trong một căn phòng hình vuông mà cạnh là một trượng. -Cửa mặt: chỉ miệng hay trán, ở đây chỉ sáu căn. -Vô vị chân nhân: chỉ Phật tánh.
*Vô vị chân nhân được sáng tạo ra để mô tả Phật tánh, đừng quên rằng những gì mô tả ở đây đều chỉ là ngón tay trỏ mặt trăng. Từ Phật tánh là miễn cưỡng mà nói ra, không phải từ đó là Phật tánh. Vô vị chân nhân là chân ngã không chiếm một vị trí nào, không thể dùng tọa độ để xác định, không thể tu hành từng bước, từng bước để lại gần, cũng không thể dùng tri giác hoặc cảm quan mà nắm bắt, hoặc dùng ngôn ngữ mà diễn tả. Khi ông tăng hỏi: -Thế nào là vô vị chân nhân? Lâm Tế không thể dùng lời mà cho ông một đáp án chỉ còn cách giúp ông tự thể nghiệm. Lâm Tế túm lấy ông tăng buộc ông nói, thực Lâm Tế không muốn ông nói ra một điều gì chỉ là muốn ông ngừng tư duy may ra lúc đó có thể thấy cái không thể thấy là vô vị chân nhân. Điều bất hạnh là ông tăng mở mồm định nói thì vô vị chân nhân đã trốn mất tiêu rồi. Câu nói của Lâm Tế: -Vô vị chân nhân là cái gì ư? Là que cứt khô. Vô vị chân nhân vốn không thể nghĩ bàn, nếu bị coi là một ngẫu tượng mới, một linh hồn, một triết học huyền biện, thì chẳng bằng sớm ném vào hố phẩn, dội nước cho trôi đi để khỏi làm thối mũi người thiên hạ.
(Liệu Duyệt Bằng).
*Phật đạo là con đường làm sáng tỏ chính mình. Phật là người tự giác. Cái mà Thiền gọi là chân nhân không ngoài sự tự giác cái vô tướng của bản thân mình. (Long Mân)
*Vô vị Chân nhân là chỉ Phật tánh, là cái chân ngã không đầu, không cuối, chẳng sanh chẳng diệt, vượt cả thời gian, không gian cùng với đạo hợp nhất. Tự tánh chơn như không thể nói ra được. Lâm Tế vì muốn tiếp dẫn học nhân dùng vô vị chân nhân để biểu thị. Ông tăng đã hiểu rõ ý. Lâm Tế biết vậy nhân cơ hội trắc nghiệm ngộ cảnh của ông, muốn ông tự giải đáp. Khi ông tăng mở miệng định nói, Lâm Tế sợ ông lạc vào tâm thức nói ra cái không thể nói, nên đẩy ông ra ngăn không cho nói. Động tác này là tác phong nhất quán của Thiền gia. Sau, Lâm Tế lại lấy que cứt khô mà dụ cho vô vị chân nhân, chỉ phàm thánh bình đẳng, chúng sanh đều có Phật tánh. Thật là một mũi tên mà bắn 2 chim vậy.
4. Hai Vị Đường Chủ
Sư thượng đường, có ông tăng ra lạy. Sư hét, ông tăng nói: -Lão hòa thượng, tốt nhất là đừng thử con. -Ông nói coi, rơi vào đâu vậy? Ông tăng hét lên. Lại có ông tăng khác hỏi: -Đại ý Phật pháp là thế nào? Sư hét, ông tăng lạy. Sư hỏi: -Hét có tốt không? -Giặc cỏ thua lớn. -Lỗi ở đâu? -Tái phạm chẳng dung . Sư bèn hét lớn. Hôm đó hai đường chủ gặp nhau, cùng hét lớn một lúc. Một ông tăng hỏi sư: -Còn Chủ, Khách không?
-Chủ, Khách rõ ràng. Đại chúng nếu muốn hiểu câu nói Chủ, Khách của Lâm Tế hãy hỏi hai vị đường chủ này. Sư hạ đường.
Chú Thích:
-Hòa thượng: trong ngôn ngữ Trung Hoa chỉ một ông tăng thường, không phải là một cấp bậc như ở Việt Nam. -Giặc cỏ thua lớn: dụng ngữ của nhà binh chỉ sự khinh thường. -Tái phạm chẳng dung: cũng là dụng ngữ nhà binh. -Rơi vào đâu: tiếng hét thuộc loại nào .
5. Đại ý Của Phật Pháp
Sư thượng đường thuyết pháp. Có ông tăng hỏi: -Đại ý của Phật pháp là gì? Sư giơ phất tử lên. Ông tăng hét. Sư liền đánh. Có ông tăng khác lại hỏi: -Đại ý của Phật pháp là gì? Sư giơ phất tử lên. Ông tăng hét lớn. Sư cũng hét lớn. Ông tăng mở miệng định nói, sư bèn đánh.
Chú Thích: -Phất tử: chổi lông gà để phủi bụi, trong Phật giáo Ấn Độ, đây là đồ vật mà một ông tăng có quyền sở hữu. -Giơ phất tử lên: Biểu thị sẵn sàng tranh luận.
*Có ông tăng hỏi Thạch Sương: -Đại ý Phật pháp là thế nào? -Ngày xuân gà gáy . -Con không hiểu. -Trung thu, chó sủa. Đạo là do tham cứu những sự vật tầm thường mà ngộ. Đạo Ngộ hỏi Thạch Đầu: -Đại ý Phật pháp là thế nào? -Không được, không biết.
-Trên đó còn gì nữa không? -Trời cao chẳng ngăn ngại mây trắng bay. Câu trả lời 1: bác bỏ sự hướng ngoại cầu tìm. Câu trả lời 2: Phật pháp là viên dung vô ngại, tới đi tự như. (Tiêu Vũ Đồng) Một ông tăng hỏi Bố Đại: -Đại ý Phật pháp là thế nào? Bố Đại không nói một lời, bỏ túi vải xuống, khoanh tay đứng. -Chỉ là thế thôi hay còn đạo lý cao thâm nào nữa không? Bố Đại vẫn không nói một lời, lại khoác túi vải lên lưng mà đi. Bỏ túi vải xuống là chỉ khám phá thế tình bỏ xuống vạn duyên (có thể xuất thế). Khoanh tay đứng: lấy con mắt lãnh đạm mà nhìn thế gian, giải thoát tự tại. Lại khoác túi vải lên lưng: có thể nhấc lên (có thể nhập thế) , không nói một lời vì ngôn ngữ không thể diễn tả được chân lý. Hoạt cảnh trên biểu thọ không chấp tướng mới gánh vác được gia nghiệp của Như Lai; ngay đó đảm trách bố thí, trò giới, nhẫn nhục, tinh tấn, bát nhã, thiền định (lục độ bát nhã ba la mật). Tự độ rồi độ tha. Không một chuyện gì là không đảm đương, cũng không chấp một tướng nào. Phàm phu có thể nhấc lên được (chấp tướng), nhưng không bỏ xuống được. Tiểu thừa bỏ xuống được (xuất thế), nhưng không nhấc lên được. Đại thừa Bồ tát bỏ xuống được (xuất thế), cũng nhấc lên được (nhập thế) nhưng không chấp tướng. Bỏ xuống là không (chân đế), nhấc lên là Hữu (tục đế). Không Hữu viên dung, chân tục bất nhị đó là trung đạo đệ nhất nghĩa đế, không lời nào có thể diễn tả được cho nên Bố Đại không nói. Câu đại ý Phật pháp: Mọi điều ác không làm: là bỏ xuống. Mọi điều thiện đều làm: là nhấc lên. Ý tự thanh tịnh: là không chấp tướng. Đó là lời dạy của chư Phật.
6. Chết Chìm Suối Sâu
Sư thượng đường nói:
- Đại chúng! Kẻ vì pháp không sợ chôn thân mất mạng. Tôi ở nơi tiên sư Hoàng Bá 20 năm, 3 lần hỏi đại ý của Phật pháp, 3 lần bị ăn gậy như bị cây ngải phất qua. Hôm nay còn muốn một trận nữa, người nào vì tôi mà ra tay? Có một ông tăng từ chúng bước ra thưa: -Con làm được. Sư đưa gậy cho ông, ông tăng đưa tay ra nhận. Sư bèn đánh. Có ông tăng hỏi: -Thế nào là việc trên lưỡi kiếm? -Nguy thay! Nguy thay! Ông tăng do dự, sư bèn đánh. Có ông tăng hỏi: -Thạch Thất giã gạo, đạp chân xuống mà quên nhấc chân lên, vậy ý hướng ở đâu? -Chết chìm suối sâu.
Chú Thích:
-Việc trên lưỡi kiếm: chỉ cảnh giới nhất tâm bất loạn. -Thạch Thất: Đường Võ Tông hạ chiếu chỉ diệt Phật giáo, ra lệnh chư tăng ni phải hoàn tục. Đến khi Phật giáo được phục hồi Thạch Thất không mặc lại cà sa, chỉ làm người giã gạo để mưu sinh. -Quên nhấc chân lên: chỉ cảnh giới vong ngã. -Vô tâm cố nhiên là tốt, nhưng nếu là một loại Thiền người chết thì không có cách gì lý giải chân lý . Cái gọi là chân Thiền thì phải có định tuệ (định tuệ bình đẳng) phải trong không sản sanh ra tự giác, tức là phải từ tác dụng của tam muội. Khi tọa thiền nhìn những người qua lại Ngũ Điều Kiều (tên một cây cầu ở kinh đô) như những cây cối trong rừng sâu. Nhưng như vậy vẫn chưa đúng, khi tọa thiền phải nhìn những người qua lại ở Ngũ Điều Kiều như chính họ thì mới được. (Đông Phương Văn Huệ)
7. Duy Ma Cật Và Phó Đại Sĩ.
Sư thượng đường nói:
-Một người ở trên đỉnh núi không có đường đi, một người ở ngã tư đường không biết đi về hướng nào . Ai ở trước, ai ở sau? Không làm Duy Ma Cật, không làm Phó Đại Sĩ. Các ông đứng đã lâu rồi, hãy bảo trọng.
Chú Thích: -Duy Ma Cật: còn gọi là Tịnh Danh, một cư sĩ cùng thời với Đức Phật Thích Ca. -Phó Đại Sĩ: còn gọi là Thiện Huệ Đại Sĩ, vốn tên Truyền Ông, cư sĩ Trung Hoa nổi tiếng thời Nam Bắc Triều. -Người trên đỉnh núi: chỉ người tu hành, dứt bỏ mọi ràng buộc với thế gian.
*Người ở ngã tư đường: chỉ bậc Bồ Tát ở cõi Ta Bà, Duy Ma Cật là cư sĩ Ấn Độ ưa sống ẩn dật, Phó Đại Sĩ là cư sĩ Trung Hoa nổi tiếng về những hoạt động Phật sự. Có lẽ Lâm Tế muốn dung hòa giữa hai cách sống (Paul Demiéville) hoặc có ý “Đừng tưởng tôi nói về các nhân vật lịch sử, tôi đương nói về các ông “ (Burton Watson).
*Nói cách khác, khi đạt tới tâm cảnh tuyệt đối bình đẳng nhưng thân vẫn ở trong cảnh bất bình đẳng, cũng là nói muốn viên dung bình đẳng và bất bình đẳng của pháp giới sự sự vô ngại (tư tưởng tối cao của kinh Hoa Nghiêm. Sự giao tham vô ngại giữa 2 cá thể của cảnh giới tự tha bất nhị). Còn nữa, một người đứng ở ngã tư đường là sống ở thế gưới tương đối bất bình đẳng nhưng chẳng cần tiến, lui. Tuy ở thế giới bất bình đẳng nhưng không bị trói buộc bởi bất bình đẳng mà sống trong cảnh giới bình đẳng. Trên đỉnh núi cao là cầu bồ đề, ngã tư đường là giáo hóa chúng sanh. (Long Mân)
8. Ly Gia
Sư thượng đường nói:
-Có người suốt kiếp ở ngoài đường mà không lìa nhà. Có người lìa nhà mà không ở ngoài đường. Người nào đáng thọ sự cúng dường của trời, người? Sư nói rồi hạ đường.
Chú Thích: -Ở ngoài đường: chỉ bậc Bồ Tát trên đường tiến tới quả vị Phật.
*Kiếp: dẫn xuất từ chữ Phạn Kalpa , thời gian từ sinh tới tử. Đường là chỉ Tương Đối, Nhà là chỉ Tuyệt Đối (Burton Watson)
*Không lìa nhà: chính là vô vị chân nhân, là Phật tánh (Paul Demiéville).
*Ở ngoài đường là chỉ thế giới bất bình đẳng, nhà là chỉ thế giới bình đẳng. Có người ở trong xã hội hiện thực, phổ độ chúng sanh vẫn không làm mất đi cảnh giới giác ngộ tuyệt đối, cũng chẳng chú ý gì đến cảnh giới tương đối của đời thường. Đó là cảnh giới hướng thượng của thiền giả. (đầu sào trăm trượng, bước bước nữa) là cảnh giới mà Lâm Tế nói vô sự là quý nhân. Vô sự là dứt bỏ mọi tạo tác, chỉ bình thường, không có một cái gì cả. (Long Mân)
9. Ba Câu
Có ông tăng thưa: -Xin thầy giảng cho thế nào là Phật thật, Pháp thật, Đạo thật. -Tâm thanh tịnh là Phật, tâm sáng suốt là Pháp, ở mọi chốn không ngại là Đạo. Ba là một, đều là giả danh, không có thật. Đạo nhân chân chánh niệm, niệm chẳng gián đoạn. Đạt Ma đại sư từ Tây sang là để tìm người không bị người gạt, sau gập Nhị tổ. Nhị tổ chỉ nhân một lời nói mà ngộ, mới biết lúc trước mình uổng phí công phu. Hôm nay, chỗ thấy của sư núi này cùng Phật, Tổ chẳng khác. Nếu hiểu được câu thứ nhất thì làm thầy của Phật, Tổ. Nếu hiểu được câu thứ nhì thì làm thầy của trời, người. Nếu hiểu được câu thứ ba thì tự cứu chẳng xong.
-Thế nào là câu thứ nhất? -Nhấc ấn tam yếu lên, rõ dấu son Không chút do dự, chủ khách phân. -Thế nào là câu thứ nhì? -Diệu giải đâu ngại câu hỏi Bọt tan nào ngăn dòng sông. -Thế nào là câu thứ ba? -Hãy coi con rối trên sàn diễn Cử động đều do người giật dây. Sư lại bảo: -Phàm là người diễn xướng Tông thừa, trong một câu phải đủ ba huyền môn, mỗi huyền môn phải đủ ba yếu tố có quyền, có thực, có chiếu, có dụng. Các ông hiểu như thế nào? Sư hạ đường.
Chú Thích: -Câu một chỉ tâm thanh tịnh, Tâm là Phật. Nếu đã thanh tịnh tức chứng Phật quả, là chứng ngộ. -Câu thứ hai chỉ Tâm quang minh là giai đoạn lý ngộ, nên có thể làm thầy trời, ngưới. -Câu thứ ba chỉ vô ngại tịnh quang, tức là đối với Phật pháp có thể tín thọ phụng hành, nhưng vẫn chưa triệt ngộ Phật lý. Giai đoạn này có thể tiến, có thể lui, cho nên tự cứu chẳng xong. (Bồ Đề Học Xã)