PHẦN 4
⏯️ (tiếp theo)
QUYỂN THỨ VIII
CHƯƠNG BỐN - PHẦN CUỐI
H₄ - Hiển đức pháp thân chân tịnh
Đây sắp nêu ra Như Lai tạng tự tánh thanh tịnh, để hiển đức pháp thân thanh tịnh nên đưa ra câu hỏi này.
Đại Huệ thưa: Vì con nói ấm giới nhập sanh diệt... do hai quyển trước ban đầu chỗ hiển lý cứu cánh, đã hỏi về Như Lai tạng tự tánh thanh tịnh chuyển ba mươi hai tướng vào trong tất cả thân chúng sanh, mà bị chiếc áo ấm giới nhập nhơ nhiễm trói buộc, bị tham dục ngu si trần lao vọng tưởng làm ô uế.
Lại nghi Như Lai nói Như Lai tạng đồng với thần ngã của ngoại đạo. Thế Tôn đã giải nghi rằng: Ta nói Như Lai tạng không đồng với ngã của ngoại đạo, ta có khi nói không, vô tướng, chân như, thật tế, pháp tánh, pháp thân Niết-bàn, lìa tự tánh, không sanh không diệt, bổn lai tịch tĩnh, tự tánh Niết-bàn. Những câu như thế nói về Như Lai tạng rồi.
Bởi những điều ấy để hiển bày lý cứu cánh, để hiển pháp thân vô ngã, để phá chấp thần ngã của ngoại đạo, nên đặc biệt nêu Như Lai tạng để chất vấn. Nay chỗ đoạn chứng này đã rốt ráo, sắp hiển bày pháp thân bổn tịnh, chỉ vì khách trần ấm giới nhập làm nhiễm ô.
Thẳng muốn trừ sạch cái nhiễm ô ấy, để hiển bày Niết-bàn tịnh đức, nên đặc biệt nêu lên chỗ trừ sạch nhiễm ô ấm giới nhập sanh diệt... để thưa thỉnh. Sắp thỉnh Thế Tôn nói về Như Lai tạng tự tánh thanh tịnh để hiển đức Niết-bàn chân thật, bèn nói Lại vì con nói về ấm giới nhập... Đây là Đại Huệ đứng về mặt nhiễm ô mà hỏi, phần sau Thế Tôn đứng về mặt Như Lai tạng tự tánh thanh tịnh mà đáp.
Đại Huệ bạch Phật rằng: Xin vâng thọ giáo.
Phật bảo Đại Huệ: Như Lai tạng là nhân của thiện và bất thiện, có thể biến khắp tạo ra tất cả nẻo thọ sanh. Thí như nhà huyễn thuật, biến hiện các loài, lìa ngã ngã sở, vì không biết điều này, ba duyên hòa hợp phương tiện mà sanh.
Ngoại đạo không biết, chấp trước tác giả, bị tập khí ác hư ngụy từ vô thỉ huân tập, gọi là thức tàng, sanh vô minh trụ địa, cùng chung với thất thức, như sóng nơi biển cả sanh liên miên không dứt. Lìa lỗi vô thường, lìa luận thần ngã, tự tánh không nhơ, rốt ráo thanh tịnh.
✅ Đây nói Như Lai tạng tự tánh thanh tịnh để hiển bày đức chân tịnh của pháp thân.
Như Lai tạng là tên gọi của tự tánh thanh tịnh tâm tại triền. Đại Huệ nghi rằng năm ấm vô ngã, nếu không có ngã, thì ai sanh ai diệt, ai biết khổ tận, ai chứng Niết-bàn? Phật nói: Ấm giới nhập tuy vô ngã, mà có Như Lai tạng làm Phật tánh của chúng sanh.
Chỉ tạng tánh này hay làm nhân thiện và bất thiện của thế, xuất thế gian, hay biến khắp hưng tạo các pháp nhiễm ô, hình sắc sanh tử trong sáu đường. Cũng như nhà ảo thuật biến hiện các việc, song vốn vô ngã ngã sở, cũng có thể thành tựu pháp thanh tịnh xuất thế.
Do Nhị thừa không biết Như Lai tạng tánh này là nhân của sanh tử, mới cho là căn trần thức ba duyên hòa hợp phương tiện mà làm sanh nhân. Ngoại đạo không biết Như Lai tạng tánh này mà vọng chấp thần ngã tác giả làm sanh nhân.
Song tạng tánh này bị tập khí ác hư ngụy từ vô thỉ huân nhiễm, mất tên Như Lai tạng chỉ gọi là thức tàng. Nên nói, Phật nói: Như Lai tạng tức là A-lại-da, nương tạng tánh này mà sanh vô minh trụ địa, biến khởi lên sóng tiền thất thức, sanh diệt không ngừng. Vì thế Như Lai tạng cũng trôi theo bảy thức lưu chuyển sanh tử, như sóng trên biển, nhân gió khởi lên, nên sanh tử tiếp nối nhiều kiếp không chấm dứt.
Kỳ thật Như Lai tạng tánh vốn tự thường trụ, lìa kiến chấp vô thường của Nhị thừa, vốn tự vô ngã lìa luận thuyết thần ngã của ngoại đạo, tuy ở trong chỗ nhiễm ô triền miên, kỳ thật tự tánh vô cấu, rốt ráo thanh tịnh.
Đây chính là mê tánh này mà sanh tử, ngộ tánh này mà thành Niết-bàn. Do tạng tánh này, vô thường không thể hoại nên là chân thường, các khổ không thể xâm chiếm nên là chân lạc, sanh tử không thể câu thúc nên là chân ngã, phiền não không thể nhiễm ô nên là chân tịnh. Đây sở dĩ là Như Lai vô tướng Niết-bàn chân thật quả thể.
✅ Đây nói tạng thức vốn chẳng sanh diệt, chỉ là Thất thức sanh diệt, để rõ Như Lai tạng là nhân nhiễm ô sanh tử.
Đại Huệ nghi hỏi ấm giới nhập đã vô ngã, ai sanh ai diệt, mà ngu phu kia nhân gì không biết khổ tận, không biết giải thoát? Ý Phật đáp rằng: Ấm giới nhập vốn là Như Lai tạng, bất sanh bất diệt, nay tuy tại triền tên thức tạng, thể của nó vốn chân, cũng chẳng sanh chẳng diệt.
Cái sanh diệt ấy, chẳng phải là thức tạng, chỉ là tiền thất thức có sanh diệt thôi. Nên Đường dịch: “Ngoài ra Thất thức, ý ý thức... niệm niệm sanh diệt, song Thất thức kia sở dĩ sanh diệt, riêng lấy vọng tưởng làm nhân, cảnh giới làm duyên, hòa hợp mà sanh.
Chấp trước danh tướng cho là thật có, do không rõ cảnh giới tự tâm hiện này, sắc... các pháp chỉ là sự hiển hiện của tự tâm. Do không rõ nên tham trước danh tướng, đối cảnh nghịch thuận sanh tâm yêu ghét, khởi lên thọ khổ vui, vì sự trói buộc của danh tướng này, đã từ tham sanh, lại sanh ra tham”.
Do nhân duyên này, chúng sanh ngu si trôi theo dòng sanh tử, không biết chỗ dứt khổ, không cầu giải thoát. Đây là lý do Như Lai tạng biến hiện lục thú là nhân nhiễm của sanh tử.
✅ Đây nói nương Như Lai tạng làm nhân cho ngoại đạo vô tưởng và Nhị thừa.
Hoặc nhân hoặc phan duyên là trên nói vọng tưởng làm nhân, cảnh tướng làm duyên. Bởi vọng tưởng, là chỉ tiền thất thức, là Kiến phần của đệ bát thức, cảnh tướng là Tướng phần của đệ bát, nay nói các gốc chấp thọ diệt thứ lớp chẳng sanh.
Nghĩa là tiền lục thức chẳng chấp thủ các cảnh, mà Thất thức tự nhiên chẳng khởi. Do ngoại đạo và hàng A-na-hàm độn căn đều có thể diệt sạch Lục thức, vì không rõ duy tâm, lại không có trí tuệ đa văn, chỉ y cứ vào tự tâm vọng tưởng phân biệt, chán khổ ưa vui, hoặc nhập diệt thọ tưởng định mà ở lại cõi ngũ na-hàm, hoặc rơi trong cõi vô tưởng mà nhập Tứ thiền của ngoại đạo. Hoặc có hàng La-hán lợi căn, khéo tu Tứ đế, ra khỏi ba cõi, được chân đế giải thoát, chứng lý thiên không, mà thật chưa được cứu cánh Niết-bàn, bèn tự vọng sanh tưởng giải thoát diệt độ. Đây chỉ là sanh tử chấm dứt gọi là giải thoát, kỳ thật chưa được giải thoát tất cả. Vì kia kỳ thật chưa xả chưa chuyển được tên Thức tạng trong Như Lai tạng.
Thức tạng, Thất thức lưu chuyển không diệt, nghĩa là ngoại đạo Nhị thừa kia sở dĩ chưa phải là chân diệt độ, vì Tạng thức chưa chuyển, nên Thất thức lưu chuyển bất diệt.
Vì sao? Vì “Y bỉ chuyển duyên bỉ” lẫn nhau làm duyên khởi. Nên Đường dịch: “Nếu không có Tạng thức thì Thất thức ắt diệt. Vì sao? Vì nhân kia và sở duyên mà được sanh”.
Ý ở chỗ nếu chuyển tên Tạng thức thì Thất thức cũng theo đó mà diệt. Sở dĩ Thất địa trở lên chưa xả được Tạng thức, chỉ y cứ trên vọng tưởng của mình mà tu, tâm cảnh chẳng như, dùng ngoài tâm tìm pháp nên phần lớn rơi trong tà kiến. Hàng Nhị thừa không rõ, nên rơi vào kiến chấp tự cộng tướng. Vì các vị ấy chưa trừ sạch được tập khí hư ngụy từ vô thỉ trong Tàng thức. Đường dịch: “Bởi không phải là cảnh giới sở tri của những người tu theo Nhị thừa và ngoại đạo, vì các vị ấy chỉ rõ được nhân vô ngã, vì đối với uẩn xứ giới chấp giữ tự tướng và cộng tướng.”
Tạng thức cũng tên là A-lại-da thức, cũng tên A-đà-na-thức, Trung Hoa dịch là Thức không mất, vì trôi trong dòng sanh tử mà không mất.
Kệ nói: Thức A-đà-na vi tế thậm thâm, tập khí chủng tử thành bộc lưu, ta đối với phàm phu không khai diễn, e họ phân biệt chấp làm ngã. Nên ✅ Đây nói chẳng phải cảnh giới kia.
Đây gọi là trụ Bồ-tát Bất động địa, được mười tam-muội đạo môn lạc, sức gìn giữ của tam-muội giác, quán sát Phật pháp bất tư nghì, tự nguyện không thọ tam-muội lạc và thật tế (Đường dịch: Được sức tam-muội chư Phật giữ gìn, quán sát nghĩa Phật pháp bất tư nghì và sức bổn nguyện không trụ thật tế và tam-muội lạc).
Hướng về tự giác thánh trí, không chung với tất cả Thanh văn Duyên giác, và lối tu của các ngoại đạo, được mười chủng tánh đạo hiển thánh và thân trí ý sanh, lìa tam-muội hành.
Cho nên Đại Huệ! Đại Bồ-tát muốn cầu tiến tới thù thắng nên thanh tịnh Như Lai tạng và tên Thức tạng.
✅ Đây nói Như Lai tạng là tịnh nhân của xuất thế.
Nghĩa là chuyển tên Thức tạng thấy Như Lai tạng, liền được vô công dụng đạo đệ Bát địa, mới chứng trí pháp vô ngã. Kệ Duy Thức nói “Bất động địa tiền tài xả tạng”, là xả cái tên tàng thức nhiễm ô này, tức là Như Lai thanh tịnh tạng chẳng phải riêng có sở đắc.
Nói pháp chấp đó, là năm pháp ba tự tánh, tám thức hai vô ngã, tất cả pháp chân vọng đối trị, do khi chưa chuyển Tạng thức, Thất thức chưa diệt, đều có chấp giữ, chấp đó làm ngã. Nay Tạng thức đã chuyển ắt Thất thức diệt, Thất thức diệt thì năm pháp ba tự tánh nhân pháp vô ngã ngay đó tùy diệt, vì năm pháp... đều y cứ vào Tạng thức mà lập. Nay thức chuyển thì kia cũng diệt, đó là “Da không còn thì lông mọc vào đâu”.
✅ Đây là lý do vì được pháp vô ngã mà tiến lên Bát địa, đến đây sanh diệt đã diệt, đối trị cũng quên, không công để dụng, nên nói vô công dụng đạo.
Đã vô công dụng được pháp vô ngã, ắt tất cả ác kiến ngoại đạo không thể lay động, nên gọi là trụ bất động địa.
Trụ địa này rồi liền được mười thứ tam-muội môn lạc, song Bồ-tát này đã ở bên sanh diệt mệt nhọc, giác thức phiền động, chưa được chân lạc, nay sanh diệt đã diệt, tịch diệt hiện tiền, vui không thể tả, ắt là đắm trong tam-muội không muốn ra, trọn không có niệm độ sanh. Nếu không nhờ Phật lực gia trì dẫn bạt khiến ra khỏi, ắt rơi trong Nhị thừa, nên là được thần lực tam-muội của chư Phật gia trì. Lại cũng do sức bổn nguyện từ xưa gìn giữ, nên tuy chứng Niết-bàn mà không trụ thật tế, cũng không chấp cái vui tam-muội, nên dùng tam-muội như huyễn hiện ý sanh thân, lợi ích chúng sanh, để hướng về quả tự giác thánh trí cứu cánh. Đây là lý do không đồng với lối tu của Nhị thừa ngoại đạo. Thế nên Bồ-tát tu hạnh như thật cầu thắng pháp, nên trừ sạch tên tạng thức trong Như Lai tạng như thế mà thôi, ngoài chỗ này không riêng có gì để chứng đắc. Trên chánh hiển đức Niết-bàn chân tịnh xong.Văn sau giải nghi khuyến tu.
H₅ - Giải thích nghi khuyến tu
Song Đại Huệ! Các hàng phàm thánh thảy đều có sanh diệt, người tu hành tự giác thánh trí hiện pháp lạc trụ, không bỏ phương tiện.
✅ ✅ Đây giải thích nghi.
❓ HỎI:
Đã chuyển tạng thức tên Như Lai tạng, song tạng thức có sanh diệt, mà Như Lai tạng cũng có sanh diệt ư?
📣 ĐÁP:
Nếu không có tên tạng thức thì Như Lai tạng ắt không sanh diệt.
❓ HỎI:
Tất cả phàm phu vì chưa chuyển tạng thức nên tâm có sanh diệt, tất cả thánh nhân đã chuyển tạng thức tâm cũng có sanh diệt chăng?
📣 ĐÁP:
Bậc Đẳng giác trở xuống tuy chuyển tạng thức mà vẫn dung có sanh diệt, vì tuy hướng tự giác thánh trí, trụ hiện pháp lạc, mà không bỏ sự nghiệp dũng mãnh tinh tấn độ sanh. Vả lại dị thục chưa trọn không, còn có vi tế vô minh sanh tướng chưa hết gọi là chân thường lưu chú, nên cũng có sanh diệt, nên nói các hàng phàm thánh thảy đều có sanh diệt, người tu hành tự giác thánh trí hiện pháp lạc trụ không bỏ phương tiện.
❓ HỎI:
Sanh diệt là Thất thức, nên nói nếu không có Tạng thức Thất thức ắt diệt, Thất thức đã diệt mà các bậc thánh đã chuyển Như Lai tạng lại có sanh diệt gì ư?
📣 ĐÁP:
Do chỉ chuyển danh ngôn, vì không thật tánh. Văn kinh sau nói Thất thức không lưu chuyển, không chịu khổ lạc, chẳng phải nhân Niết-bàn. Như Lai tạng thọ khổ lạc cùng chung với nhân sanh hoặc diệt.
Do đây mà xem, trước nói sanh diệt đó, không phải Thất thức mà là Như Lai tạng. Vì sao? Vì Như Lai tạng có nghĩa tùy duyên, nghĩa bất biến. Nên bất sanh diệt là nghĩa bất biến, mà sanh diệt là nghĩa tùy duyên. Do tùy duyên nhiễm thì làm nhân sanh tử, mà chúng sanh niệm niệm sanh diệt, tạo các ác nghiệp, nên trầm luân sanh tử.
Đây là phàm phu sanh diệt. Nếu theo duyên tịnh, thì làm nhân Niết-bàn, mà Bồ-tát niệm niệm vô sanh, khởi lên đại trí dụng, lợi lạc hữu tình, nên hướng thú Niết-bàn. Đây là thánh nhân sanh diệt. Thế nên phàm thánh thảy đều có sanh diệt, vì sanh mà vô sanh, vô sanh mà sanh, nên phàm thánh bình đẳng. Lục tổ nói: “Phật tánh vô thường”. Lại nói: “Nếu pháp thân tịch diệt, ắt đồng cỏ cây ngói đá, ai sẽ thọ lạc.”
Lại nói: “Pháp tánh là thể sanh diệt, ngũ uẩn là dụng sanh diệt, một thể có năm dụng, nên sanh diệt là thường”. Chỗ này nếu không phải người thâm chứng vô sanh, đạt pháp tánh duyên khởi, làm sao nêu lên điều này.
Đại Huệ! Như Lai hiện tiền cảnh giới như thấy quả A-ma-lặc trong tay.
✅ Đây giải thích chỗ chuyển nạn.
❓ HỎI:
Đã nói Như Lai tạng tự tánh thanh tịnh, phàm thánh bình đẳng, vì sao có sự sai khác giữa thánh phàm?
📣 ĐÁP:
Vì chỗ thấy không đồng (Đường dịch: Như Lai tạng, thức tạng hai tánh vốn thanh tịnh, vì bị khách trần nhiễm mà thành bất tịnh.
Tất cả hàng Nhị thừa và các ngoại đạo phỏng đoán khởi lên kiến chấp, không thể hiện chứng. Như Lai đối với chỗ này thấy rõ ràng như xem quả Yên-ma-lặc trong bàn tay).
Vì phàm phu bất giác nên là bất tịnh, ngoại đạo vọng giác, Nhị thừa thiên giác đều thuộc về tỷ lượng và phi lượng, nên chỗ thấy bất tịnh.
Bồ-tát phần giác, vì hàng Bồ-tát Thập địa quán Phật tánh như thấy mặt trăng qua lớp mây nên cũng thuộc tỷ lượng, cũng chưa thật thanh tịnh.
Chỉ có cảnh giới hiện tiền của Như Lai, thấy Như Lai tạng như xem quả trong tay, mới là hiện lượng cứu cánh thanh tịnh.
Thế nên kinh này quán duy tâm hiện lượng, chóng thấy Phật tánh, nghĩa này rõ ràng.
Thanh văn chấp trước thấy nhân pháp vô ngã (Đường dịch: Khiến các Thanh văn thấy pháp vô ngã, nên phu nhân Thắng Man thừa oai thần của Phật, nói về cảnh giới Như Lai, chẳng phải cảnh giới của hàng Thanh văn Duyên giác và ngoại đạo.
Như Lai tạng Thức tạng, chỉ có cảnh giới Phật và các vị Bồ-tát khác trí tuệ bén nhạy y nghĩa. Thế nên ông và Đại Bồ-tát, nơi Như Lai tạng Thức tạng nên siêng tu học, không nên chỉ nghe giác rồi tưởng là đủ.
Chỗ hiển đức thanh tịnh cứu cánh của Niết-bàn cùng tột nơi đây, nên kết luận khuyên tu.
Đường dịch: Ta vì phu nhân Thắng Man và các Bồ-tát trí thâm diệu sâu xa khác, nói Như Lai tạng tên thức tạng cùng Thất thức chung sanh khởi, khiến các Thanh văn thấy pháp vô ngã.
Đại Huệ - vì phu nhân Thắng Man nói về cảnh giới Phật, chẳng phải là cảnh giới Nhị thừa ngoại đạo.
Đại Huệ - Như Lai tạng thức tạng này, là cảnh giới Phật, vì các ông so sánh như chỗ sở hành của hàng Bồ-tát trí thanh tịnh tuỳ thuận nghĩa, không phải là chỗ sở hành của ngoại đạo Nhị thừa chấp trước văn tự.
Pháp Hoa nói: “Người căn độn trí kém, kẻ chấp tướng kiêu mạn, không thể tin pháp này”.
Nên không phải chỗ hành, về trí chưa tịnh vậy.
Kinh Pháp Hoa lại nói: “Có Phật tử tâm tịnh, nhu hòa và lợi căn, ở chỗ vô lượng Phật, mà hành đạo thâm diệu, vì các Phật tử này, nói kinh Đại thừa này”.
Nên vì người đầy đủ trí lanh lẹ, nói Như Lai tạng tức thức tạng, cùng thất thức sanh chung.
Sở dĩ nói điều này chính vì sách tấn hàng Nhị thừa thấy pháp vô ngã.
Gọi trí thanh tịnh nghĩa là người y nghĩa không y ngữ.
Bảo Cảnh nói: “Chỉ có hình sắc, nét chữ tức là thuộc nhiễm ô”.
Bách Trượng nói: “Vốn không tên gọi, gọi là Phật là nhiễm ô, gọi là pháp là nhiễm ô.”
Ôi! Gọi là Phật pháp đều là nhiễm ô, huống tham, nhuế, si và các thứ tà kiến, ức tưởng phỏng đoán ư? Đây là lý do chẳng phải người tịnh trí sâu xa thì không thể vào vậy.
Nên răn rằng: Không nên chỉ nghe giác rồi khởi tưởng là đủ.
Như Lai tạng thậm thâm Mà cùng thất thức chung Hai thứ nhiếp thọ sanh Người trí ắt xa lìa
✅ Đây tụng Như Lai tạng tự tánh thanh tịnh.
Nghĩa là Như Lai tạng vốn tự thanh tịnh, chỉ do tập khí từ vô thỉ huân tập, mà thành thức tạng, sanh trụ địa vô minh, cùng với thất thức chung.
Vì thế nhân duyên nhiễm tịnh nương đây mà lập, nên nói hai thứ nhiếp thọ sanh. Vì tạng này tánh nhiễm hay tịnh đều phi, thánh phàm tình tận nên nói người trí ắt xa lìa. Hai thứ nhiếp thọ là năng thủ và sở thủ tức kiến phần và tướng phần, vì có tâm cảnh nên sanh, tâm cảnh mất thì không sanh.
Như ảnh gương hiện tâm Tập khí vô thỉ huân Nếu quán sát như thật Các việc đều vô sự
✅ Đây tụng này giải thích nghĩa viễn ly ở trên.
Bởi vì tất cả các pháp sanh tử Niết-bàn thánh phàm, ở trong tánh Như Lai tạng thảy như bóng hiện trong gương. Xưa nay không có, chỉ vì do hai tập khí nhiễm và tịnh từ vô thỉ huân mà có, trong Như Lai tạng tìm kiếm sanh tử mê ngộ đến đi trọn không thể được, nên nói: Nếu quán sát như thật, các việc đều vô sự. Cổ đức nói: “Cùng khắp đại địa tìm một người vô sự không thể được”. Răn nhắc như thế.
Ngu thấy tay chỉ trăng Thấy tay không thấy trăng Người chấp trước danh tự Không thấy ta chân thật
✅ Đây tụng nói ngu phu chấp trước danh ngôn, không được nghĩa chân thật, trước nói Pháp ta nói ra như ngón tay chỉ mặt trăng.
Tâm là người thợ khéo Ý như người hòa nhạc Năm thức là bè bạn Vọng tưởng chúng xem hát
✅ Đây tụng ngu phu hành động theo thức không theo trí. Vĩnh Gia nói: “Tổn pháp tài, diệt công đức thảy đều do tâm ý thức.”
Tâm là thức thứ tám hay biến hay hiện, nên như con hát. Ý là thức thứ bảy nương nhân gá duyên, nên như người đánh đàn, năm thức cùng nhóm chung nên là bạn cùng hát, thức thứ sáu phân biệt nên là người xem. Từ trước đến nay vốn chẳng có, như huyễn không thật, nên thí dụ là tuồng hát. Vì vậy mà trách chỗ xem hát cho là thật.
Vương Văn Công xem đào kép đóng tuồng, làm kệ rằng: Đào kép trong hí trường, lúc sang lại lúc nghèo, tâm biết vốn tự đồng, nên không có ưa ghét.
Tịch Am nói rằng: Ông lão này toàn thân là mắt, lừa gạt ông một điểm không được.
Từ quyển đầu từ chương Phân biệt tên tánh, phá danh tướng vọng tưởng đến đây dứt. Đứng về năm pháp ba tự tánh tám thức hai vô ngã để biện tà chánh nhân quả đã xong.
✅ Sau Đây nói rõ tướng sai biệt rốt ráo của năm pháp ba tự tánh tám thức hai vô ngã. Chia hai:
Phần đầu nói chung nhân y cứ của mê ngộ.
C₃ - Nói rõ tướng sai biệt rốt ráo năm pháp, ba tự tánh, tám thức, hai vô ngã, có 2:
D₁ - Nói chung nhân y cứ của mê ngộ
D₂ - Hiển riêng bốn môn nhiếp nhập
D₁ - Nói chung nhân y cứ của mê ngộ
Đây hỏi để rõ tướng sai biệt rốt ráo của năm pháp ba tự tánh.
Do ở trước một phen nói tất cả nhân quả tà chánh của thế xuất thế, phàm thánh, đều y nơi năm pháp ba tự tánh tám thức hai vô ngã mà kiến lập.
Nay chỗ kiến lập tà chánh nhân quả đã trọn vẹn, chỉ chưa rõ tướng năng kiến lập sai biệt của năm pháp ba tự tánh tám thức hai vô ngã nên thỉnh vấn điều này.
Mong Phật chỉ dạy rõ khiến người tu hành thấu đạt không nghi, ắt có thể y cứ vào đó phân biệt không lầm, mà vào tất cả Phật pháp, cho đến vào địa vị tự giác thánh trí cứu cánh.
Trong phần trả lời tiếp theo, trước nói chung nhân y cứ của mê ngộ.
Kế hiển riêng bốn môn nhiếp nhập.
D₂ - Hiển riêng bốn môn nhiếp nhập. Có 5:
E₁ - Nói chung tướng sai biệt của năm pháp
E₂ - Nói ba môn nhập năm pháp
E₃ - Nói bốn môn nhiếp nhập tất cả pháp
E₄ - Nói bốn môn thảy quy về như như để bày chánh quán
E₅ - Kết khuyên tu học
Đại Huệ bạch Phật rằng: Xin vâng thọ giáo.
Phật bảo Đại Huệ: Tướng phân biệt của năm pháp ba tự tánh tám thức hai vô ngã, đó là danh, tướng, vọng tưởng, chánh trí, như như. Nếu hành giả tu hành nhập Như Lai tự giác thánh thú, lìa những kiến chấp đoạn thường hữu vô, hiện pháp lạc chánh thọ ngay hiện tại trước mắt.
Đại Huệ! Không biết năm pháp ba tự tánh tám thức hai vô ngã tự tâm hiện ngoại tánh, phàm phu vọng tưởng chẳng phải thánh hiền.
✅ Đây nói chung nhân y cứ của chân vọng mê ngộ.
Ý rằng nếu người tu hành, nhân quán sát năm pháp ba tự tánh tám thức hai vô ngã thấy rõ không lầm, ắt ở nơi cảnh giới Như Lai tự chứng, ắt lìa những kiến chấp đoạn thường có không, được tam-muội hiện pháp lạc thâm sâu. Nếu các người ngu nhân vì không rõ pháp này, thì sẽ vọng thấy ngoài tâm có các pháp, vọng sanh phân biệt chấp trước, nên lưu chuyển sanh tử. Thế nên mê ngộ thánh phàm đều y cứ pháp này.
Phần kế hiển bày bốn môn nhiếp nhập, chia năm.
Ban đầu nói chung tướng sai biệt của năm pháp. Chia hai.
Trước nói pháp sai biệt.
E₁ - Nói chung tướng sai biệt của năm pháp, có 2:
G₁ - Nói chung pháp sai biệt
G₂ - Hiển người trụ như như
G₁ - Nói chung pháp sai biệt
Phật bảo Đại Huệ: Người ngu chấp trước tục số danh tướng theo tâm trôi dạt. Trôi dạt rồi, các thứ tướng, hình tượng, dung mạo, rơi trong kiến chấp hy vọng về ngã ngã sở, chấp trước sắc. Chấp trước rồi, vô tri che lấp nên sanh nhiễm trước. Nhiễm trước rồi, tham nhuế si làm chỗ tích tập sanh ra nghiệp. Tích tập rồi, vọng tưởng tự trói như tằm làm kén, rơi trong biển sanh tử các đường hoang dại, như guồng kéo nước. Vì ngu si nên không biết tự tánh như huyễn, sóng nắng, trăng nước, lìa ngã ngã sở, khởi lên tất cả vọng tưởng không thật, lìa tướng sở tướng và sanh trụ diệt. Từ tự tâm vọng tưởng sanh, chẳng phải trời Tự tại, thời tiết, vi trần, thắng diệu sanh. Ngu si phàm phu trôi theo danh tướng.
✅ Đây nói chung nhân sanh khởi sai biệt của danh tướng trong năm pháp và lý do ngoại đạo vọng chấp.
Đường dịch: “Phàm ngu không biết danh là giả lập, tâm theo đó trôi nổi thấy các thứ tướng, chấp ngã ngã sở, nhiễm trước nơi sắc, che lấp thánh trí, khởi tham sân si tạo tác các nghiệp, như tằm làm kén, vọng tưởng tự trói, rơi trong các nẻo sanh tử biển lớn như guồng nước quay, lên xuống không dừng.
Không biết các pháp như huyễn, sóng nắng, như trăng trong nước, tự tâm hiện, vọng khởi phân biệt, lìa năng sở thủ và sanh trụ diệt, cho là từ Tự tại, thời tiết, vi trần, thắng tánh mà sanh, trôi theo danh tướng.”
Bởi người ngu không biết danh tướng hư giả chẳng thật, nên vọng chấp là ngã ngã sở, y cứ vào đó tạo tác các thứ nghiệp, tự nhận quả khổ sanh tử không dừng. Các ngoại đạo không biết danh tướng chỉ duy tâm hiện, theo vọng chấp phân biệt nhân duyên sanh diệt năng sở mà sanh, bèn khởi kiến chấp khác. Nghĩa là từ trời Tự tại, thời tiết, thắng tánh, vi trần mà sanh. Đây là danh tướng vốn không, chỉ y tha khởi theo biến kế chấp mà có.
Sau đây chánh giải thích năm pháp sai biệt.
✅ Đây giải thích danh tướng trong năm pháp.
Danh tướng là sắc tâm. Ý thức là danh, tên chung của năm căn sáu trần là tướng. Lại mỗi tướng đều có tên cũng gọi là danh tướng, nên nói được nhãn thức chiếu soi gọi là sắc...
Bởi, đối tượng của năm căn là sắc thật, pháp trần được duyên bởi ý căn là sắc giả. Song thật ắt có thể thấy có đối, giả thì không thể thấy không đối. Duy thức bách pháp giảng đủ, trong đây chỉ nói về danh tướng.
✅ Đây giải thích vọng tưởng trong năm pháp.
Lập bày các tên, hiển bày các tướng, nghĩa là danh y tướng lập, tướng theo danh sanh, danh tướng vốn không, nương phân biệt mà có, nên gọi là vọng tưởng.
✅ Đây giải thích chánh trí trong năm pháp.
Chẳng trụ là khách, nơi danh tướng chẳng trụ, nên không thể được. Do có thể được, nên các thức không sanh, song thức đã chẳng sanh, chẳng phải trí không được. Dùng trí quán các pháp, ắt không phân biệt, không điên đảo, không đoạn, không thường, ắt tự không rơi vào chỗ tất cả Thanh văn, Duyên giác. Do không rơi vào thiên tà nên gọi là chánh trí.
✅ Đây nói về như như trong năm pháp.
Nếu dùng thức mà biết, thì danh tướng nổi lên, nếu dùng chánh trí mà quán thì danh tướng không lập. Đây tức là danh tướng vốn như, chẳng phải lìa ngoài danh tướng riêng có như.
Chỉ ở nơi danh tướng không khởi lên hai kiến chấp có và không, dựng lập và phỉ báng.
Do biết danh tướng vốn tự không sanh nên gọi là như như vậy, nên nói chẳng phải không lập danh tướng...
Đó là chỉ riêng còn trí như như. Vì thế biết danh tướng không sanh thì cảnh như, biết danh tướng không sanh thì tâm như, tâm cảnh như như nên một pháp chẳng lập.
Trên nói pháp sai biệt.
Dưới hiển người trụ như như.
G₂ - Hiển người trụ như như
✅ Đây nói thật chứng của người trụ như như. Được cảnh giới vô sở hữu, vì chỉ duy có như. Thành thục pháp tướng là vì không bị tướng chuyển. Do được tự giác pháp thú nên lìa các vọng tưởng. Do được chân như dụng nên thấy tánh dị tướng. Chính là trừ diệt vô minh thấy bổn pháp thân, tự diệt mà có các dụng bất tư nghị nghiệp, tức cùng chân như biến khắp tất cả nơi. Đây là hành tướng từ Sơ địa đến Cửu địa.
Bên Duy Thức nói hàng đăng địa chứng mười chân như, là đứng về mặt thắng đức. Ở đây chỉ là một Như không có hai Như, là đứng về mặt thật chứng.
Thứ lớp cho đến Pháp vân địa, ở trong khoảng giữa khai mở các thứ tam-muội, lực, tự tại, thần thông (Ngụy dịch: Vào Pháp vân địa rồi, kế dùng tam-muội lực tự tại thần thông trang nghiêm Như Lai địa). Được Như Lai địa rồi, các thứ biến hóa thị hiện tròn đầy thành thục chúng sanh như trăng trong nước, khéo rốt ráo đầy đủ mười câu vô tận, vì các chúng sanh có các tri thức mà phân biệt thuyết pháp, pháp thân lìa sự tạo tác của ý. Đây gọi là chỗ của Bồ-tát nhập Như như.
✅ Đây nói về tướng hạnh thành đắc quả.
Vì chuyển thức tạng được tên Như Lai tạng nên nói pháp thân lìa tạo tác của ý, gọi là Bồ-tát nhập như như. Luận nói: “Tự thể tướng của chân như từ xưa đến nay tự tánh đầy đủ tất cả công đức.
Đó là vì tự thể có đại trí tuệ quang minh, vì biến chiếu pháp giới, vì chân thật thức tri, vì tự tánh thanh tịnh tâm, vì thường lạc ngã tịnh, vì thanh lương bất biến tự tại. Như thế có đầy đủ Phật pháp chẳng lìa chẳng đoạn chẳng khác, nhiều hơn số cát sông Hằng, cho đến đầy đủ không thiếu một nghĩa nào, gọi là Như Lai tạng, cũng gọi là pháp thân Như Lai”. Luận cũng nói: “Tịnh pháp vô lượng công đức như thế tức là nhất tâm, lại không chỗ niệm, thế nên đầy đủ, gọi là pháp thân Như Lai tạng, do không chỗ niệm mới được đầy đủ”.
Cho nên Đây nói pháp thân lìa sự tạo tác của ý thức, gọi là nhập như như. Nên hàng đăng địa cho đến cứu cánh địa, pháp y nhiên đầy đủ nghiệp dụng như thế.
Trên nói về tướng sai biệt của năm pháp rồi.
Dưới nói ba môn vào năm pháp. Chia hai.
Ban đầu ba tự tánh vào năm pháp.
E₂ - Nói ba môn nhập năm pháp, có 2:
G₁ - Nói ba tự tánh vào năm pháp
G₂ - Nói tám thức hai vô ngã vào năm pháp
G₁ - Nói ba tự tánh vào năm pháp
Lúc bấy giờ Bồ-tát Đại Huệ bạch Phật rằng: Thế Tôn! Như thế nào là ba tự tánh vào trong năm pháp? Là mỗi mỗi có tự tướng tông?Phật bảo Đại Huệ: Ba tự tánh, tám thức, hai vô ngã thảy vào trong năm pháp.
Đây hỏi cho rõ bốn môn lẫn nhau nhiếp nhập, để hiển nhất tâm chân như nhiễm tịnh dung thông, để hiển tánh Như Lai tạng hàm nhiếp vi diệu.
Cựu chú nói, Đại Huệ trước đưa ra bốn môn để hỏi, Như Lai chỉ đứng về một môn năm pháp mà đáp.
Nên ở đây hỏi lại: Là ba tự tánh vào trong năm pháp ư? Là riêng có tự tướng tông ư? Phật đáp, ba môn còn lại đều vào trong năm pháp.
Bởi chỉ tu một môn, thì các môn nhiếp đủ, ba môn kia cũng vậy. Song sở dĩ gồm nhiếp lẫn nhau vì pháp tánh dung thông, tùy duyên chuyển biến.
Đại Huệ! danh và tướng là tự tánh vọng tưởng.
✅ Đây nói tự tánh vọng tưởng vào danh, tướng trong năm pháp.
Do có danh, tướng nên khởi phân biệt, danh, tướng nếu không, phân biệt từ đâu khởi. Nên vọng tưởng này gồm vào danh, tướng kia.
Đại Huệ! nếu nương vọng tưởng kia sanh tâm tâm pháp gọi là đồng thời sanh, như mặt trời và ánh sáng đồng thời.
Các thứ tướng gìn giữ phân biệt riêng. Đây gọi là duyên khởi tự tánh.
✅ Đây nói tự tánh duyên khởi vào vọng tưởng trong năm pháp.
Nghĩa là vọng tưởng, danh, tướng trong năm pháp cùng làm nhân cho nhau mà khởi.
Bởi khi vọng tưởng sanh tâm tâm sở pháp, thì các pháp giả danh nương đó mà sanh, như mặt trời và ánh sáng.
Nghĩa là vì tâm cảnh không rời nhau, đã có các thứ tên ắt có các thứ tướng, lại khởi các thứ phân biệt, hỗ tương nhau mà gìn giữ.
Đó là tâm sanh thì các pháp sanh, vì tâm cảnh lẫn nhau làm duyên khởi. Tự tánh duyên khởi này tức thuộc vọng tưởng trong năm tánh.
Đại Huệ! chánh trí như như ấy, không thể hoại, nên gọi là tự tánh viên thành.
✅ Đây nói tự tánh viên thành nhập vào chánh trí, như như trong năm pháp, nghĩa là chánh trí, như như là diệu tánh thiên nhiên, chẳng phải pháp có thể tạo tác, nên không thể hoại.
Do không thể hoại nên vốn tự viên thành, tức gọi là tự tánh viên thành.
Trên nêu ba tánh và năm pháp xong.
Dưới nêu tám thức hai vô ngã vào năm pháp.
G₂ - Nói tám thức hai vô ngã vào năm pháp
Lại nữa Đại Huệ! tự tâm hiện vọng tưởng, tám thứ phân biệt là tạng thức, ý, ý thức và năm thức thân tướng.
Tướng ấy không thật vì là vọng tưởng. Hai thứ nhiếp thọ ngã và ngã sở diệt, hai vô ngã sanh.
✅ Đây nói tám thức hai vô ngã vào trong năm pháp.
Nghĩa là đối với vọng pháp do vọng tâm hiện đó là danh tướng.
Ở nơi đây chấp trước sanh khởi tám thức, tức là vọng tưởng.
Nếu rõ vọng tưởng này đều là không thật, ắt phân biệt không sanh, tức là chánh trí như như.
Đây là tám thức vào trong năm pháp. Nếu đối với tâm cảnh vọng chấp thật có ngã, ngã sở, tức là danh tướng, vọng tưởng.
Nếu rõ tâm cảnh không thật, hai thứ nhiếp thọ diệt, hai vô ngã sanh, tức là chánh trí như như. Đây là hai vô ngã vào trong năm pháp.
E₃ - Nói bốn môn nhiếp nhập tất cả pháp
Cho nên Đại Huệ! năm pháp này, Thanh văn Duyên giác Bồ-tát Như Lai, tự giác thánh trí các địa tiếp nối thứ lớp, tất cả pháp đều vào trong đây.
✅ Đây nói bốn môn nhiếp vào tất cả pháp.
Nghĩa là không những năm pháp nhiếp ba môn kia, tức Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát, Như Lai hoặc nhân hoặc quả tất cả các pháp đều nhập vào trong ấy.
Nói tất cả quy về như như để nêu chánh quán.
E₄ - Nói bốn môn thảy quy về như như để bày chánh quán
Lại nữa Đại Huệ! năm pháp ấy là tướng, danh, vọng tưởng, như như, chánh trí.
Đại Huệ! tướng là hoặc chỗ nơi hình tướng, sắc tượng... hiện ra.
Đây gọi là tướng (Đường dịch: Tướng trong đây là sắc được thấy có hình trạng khác biệt. Đây gọi là tướng).
Nếu kia có tướng như thế, gọi là cái bình..., tức là cái này không phải cái khác.
Đây gọi là danh (Đường dịch: Căn cứ vào các tướng kia mà lập tên bình...
Đây như vầy đây không khác, bình... tâm tâm pháp. Đây gọi là vọng tưởng.
Danh ấy tướng ấy rốt ráo không thể được, trước sau không giác tri, nơi các pháp không có lần lượt lìa vọng tưởng chẳng thật, đây gọi là như như (Đường dịch: Danh ấy tướng ấy rốt ráo không có chỉ là vọng tâm triển chuyển phân biệt, quán sát như thế, cho đến giác diệt, đây gọi là như như). Chân thật quyết định rốt ráo tự tánh không thể được.
Ấy là tướng như, là chỗ ta và chư Phật tùy thuận vào, khắp vì chúng sanh chỉ bày diễn nói dựng lập như thật.
Đối với điều này tùy nhập chánh giác, không đoạn không thường, vọng tưởng chẳng khởi, tùy thuận tự giác thánh trí, là chỗ tất cả Thanh văn, Duyên giác ngoại đạo không đạt được. Đây gọi là chánh trí.
Đây là nói phương tiện tu hành năm pháp.
Trước nói năm pháp làm nhân cho nhau mà có. Nghĩa là danh tướng nhân vọng tưởng mà có, như như nhân chánh trí mà được.
Vả lại, danh tướng ấy là đứng chung về mặt tâm cảnh đối đãi nhau mà nói, nên nhiếp nhập vào ba tánh. Đây riêng nói tất cả các pháp gọi chung là tướng, mỗi tướng có tên, phân biệt cái tên đó là vọng tưởng. Nghĩa là danh tướng, vọng tưởng này vốn tự như như, chỉ hay biết rõ tướng như như này, rồi lại có thể vì chúng sanh hiển thị, bèn gọi là chánh trí, tức là tự giác thánh trí.
Thứ lớp trước sau của năm pháp không đồng, mà lập ý cũng khác biệt. Danh tướng kia rốt ráo không thể được vì cảnh vốn như. Trước sau không giác trí, nghĩa là đã không có cảnh bị biết, cũng không có tâm để biết, ắt tâm vốn như. Tâm cảnh như như nên đối với các pháp không cần lần lượt sanh diệt, mà chỉ cần lìa vọng tưởng chẳng thật 1.
Tướng chân như này, vì vô tướng nên chân thật quyết định rốt ráo tự tánh không thể được. Đây là chỗ ta và chư Phật đã chứng nhập, mà sở dĩ khắp vì chúng sanh khai thị nói bày, cũng nói về thật tướng như như này, hiển thị điều này, khiến chúng sanh tùy thuận nhập vào chỗ này, không rơi vào đoạn thường, không sanh vọng tưởng, vào tự giác thánh trí thú, vượt qua tất cả cảnh giới ngoại đạo Nhị thừa, như thế mới gọi là chánh trí.
Thế là những điều ta chứng và ta nói, chỉ có việc này mà thôi, tức là muốn chúng sanh được cũng chỉ việc này mà thôi. Nên Pháp Hoa nói “Chỉ một việc thật này, có hai ắt chẳng chơn.”
- Sau đây kết khuyên tu học
E₅ - Kết khuyên tu học
Đại Huệ! đây gọi là năm pháp ba tự tánh, tám thức hai vô ngã, tất cả Phật pháp đều vào trong ấy.
Cho nên Đại Huệ! nên tự phương tiện học, cũng dạy người khác chớ rơi vào chỗ khác.
Đây kết khuyên tu. Đường dịch: “Ở trong pháp này, các ông nên dùng tự trí khéo léo thông đạt, cũng khuyên người khác khiến họ thông đạt.
Thông đạt đây rồi, tâm ắt quyết định không theo kẻ khác chuyển”. Bởi thông đạt như như thì tâm ấy mới quyết định không bị kẻ khác chuyển. Đây là sở dĩ Thất địa chỉ lìa tâm thức còn sợ rơi vào đường tà ngoại đạo.
Lúc ấy Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa trên bèn nói kệ:Năm pháp ba tự tánh & Và cùng tám thứ thứcHai thứ không có ngã & Đều nhiếp về Đại thừa.
✅ Đây tụng chung bốn môn trên gồm nhiếp hết tất cả Phật pháp Đại thừa.
Danh, tướng, tưởng hư vọng & Tự tánh hai thứ tướngChánh trí và như như & Đây gọi là thành tướng.
✅ Đây tụng năm pháp nhiếp ba tự tánh.
Trên chỉ năm pháp ba tự tánh, tám thức hai vô ngã để rõ tướng sai biệt rốt ráo xong. Dưới nói rõ pháp thân thường trụ để chỉ tướng sanh tử Niết-bàn bình đẳng, chia hai.
Phần đầu nói pháp thân thường trụ.
C₄ - Nói pháp thân thường trụ để chỉ tướng sanh tử Niết-bàn bình đẳng, có 2:
D₁ - Nói pháp thân thường trụ
D₂ - Nói bình đẳng như như
D₁ - Nói pháp thân thường trụ
Lúc bấy giờ Bồ-tát Đại Huệ lại bạch Phật rằng: Thế Tôn, như Thế Tôn nói câu “Quá khứ chư Phật như hằng hà sa, vị lai hiện tại cũng lại như thế.”
Thưa Thế Tôn, vì sao? Vì như thuyết mà thọ hay vì còn có nghĩa khác? Cúi xin Như Lai thương xót giải nói.Phật bảo Đại Huệ: Chớ nên như thuyết mà thọ. Ba đời chư Phật số lượng chẳng như hằng hà sa. Vì sao? Vượt qua hy vọng thế gian, chẳng thí dụ nào có thể thí dụ.
Trước một phen hiển bày chung nhân quả chân vọng rốt ráo trong pháp giới, trọn trở về như như, đây sắp chỉ bày pháp thân thường trụ để hiển pháp giới bình đẳng như như, nên đưa ra thí dụ như hằng hà sa để thỉnh vấn.
Bởi nêu số nhiều thường dùng hằng hà sa làm thí dụ, ý Đại Huệ rằng quả là ba đời chư Phật nhiều như hằng hà sa ư? Nên nói như thuyết mà thọ hay là riêng có nghĩa khác ư?
Phật nói không thể cho rằng ba đời chư Phật nhiều như hằng hà sa. Vì sao? Vì Như Lai tối thắng siêu vượt thế gian, không có gì sánh kịp, không thể dùng số lượng tìm cầu, nên nói vượt qua sự trông mong của thế gian, chẳng thí dụ nào có thể thí dụ.
Kinh nói: “Ba cõi tất cả pháp có không, không thể cùng Phật làm thí dụ.”
Vì phàm phu chấp thường, ngoại đạo vọng tưởng (Đường dịch: Ta vì các hàng ngoại đạo và phàm ngu, thường chấp trước thường và vô thường) nuôi lớn ác kiến, sanh tử không cùng, muốn khiến chán lìa nẻo sanh tử xoay lăn, tinh tấn siêng năng thăng tiến.
Vì họ nói rằng: Chư Phật dễ gặp, chẳng phải như hoa Ưu-đàm-bát khó thấy, dứt phương tiện tìm kiếm. Có khi quán những người thọ hóa, nói lời này: Phật khó gặp như hoa Ưu-đàm-bát, hoa Ưu-đàm-bát không có đã thấy, hiện thấy, sẽ thấy. Bậc Như Lai thế gian đều thấy, vì không do kiến lập tự thông, nên nói Như Lai xuất thế như hoa Ưu-đàm-bát.
Đại Huệ! tự kiến lập tự thông là vượt qua sự trông mong của thế gian. Các phàm phu kia chỗ không thể tin, cảnh giới tự giác thánh trí, không dùng cái gì để thí dụ. Như Lai chân thật, vượt quá tướng thấy được của tâm ý thức, không thể làm dụ.
Đây là nói pháp thân thường trụ, không thể dùng ngôn thuyết tâm lượng thí dụ mà tìm cầu.
Bởi, pháp thân ly ngôn, không nằm trong số lượng, há có thể đem số lượng so sánh mà tìm cầu ư? Song dùng cát sông Hằng để dụ cho Phật dễ gặp, vì sách phát hàng chúng sanh giải đãi, phá cái tình chấp sợ xa xôi của họ, muốn khiến chán lìa sanh tử, phát tâm tinh tấn, nên vì họ nói chư Phật dễ thấy như cát sông Hằng, chẳng phải như hoa Ưu-đàm. Như nói bảo sở gần kề vậy.
Nếu nói Phật khó gặp ắt họ sợ hãi thối lui, vì cho là khó thấy, không chịu cầu tiến. Vì thế ta dùng lời lẽ “dễ gặp” để khai phát cho họ, chẳng phải lời thật.
Nếu có người căn cơ thuần thục kham nhận sự giáo hóa, sợ họ lười biếng muốn khiến họ tinh tấn nhanh chóng hướng đến Bồ-đề, nên ta lại nói rằng “Phật khó gặp như hoa Ưu-đàm” khiến họ sanh tâm khát ngưỡng luyến mộ, đây cũng là nói có ngụ ý, chẳng phải thật.
Hơn nữa, hoa Ưu-đàm chưa có ai từng thấy, đang thấy hay sẽ thấy, còn Như Lai ra đời mọi người đều biết đều thấy, há có thể dùng hoa Ưu-đàm so sánh với Như Lai ư?
Như thế dùng Ưu-đàm để thí dụ cho Phật là nói phương tiện của hóa Phật dẫn dụ chúng sanh, chẳng phải chỗ kiến lập pháp thân tự thông, nên nói Như Lai như hoa Ưu-đàm.
Bởi, tự kiến lập pháp tự thông là cảnh giới nội chứng thánh trí pháp thân, thế gian không thể sánh bằng, nên nói vượt qua sự trông mong của thế gian.
Hàng phàm ngu kia, không thể tin nhận cảnh giới tự giác thánh trí, không thể lấy gì làm thí dụ, vọng cho là có thể dùng thí dụ mà biết.
Đâu chẳng biết pháp thân chân thật của Như Lai, là vượt qua tướng tự thấy của tâm ý thức, không thể ở trong đó đem thí dụ mà tìm cầu, nên kinh Kim Cương Bát Nhã nói: “Nếu dùng sắc thấy ta, dùng âm thanh tìm ta, người ấy hành đạo tà, không thể thấy Như Lai.”
Đại Huệ! song ta thí dụ Phật như cát sông Hằng không có lỗi.
Đây là giải nghi.
Nghi rằng: Pháp thân Như Lai đã không thể thí dụ mà lại thí dụ Phật như cát sông Hằng, há không rơi vào lỗi tự ngữ tương vi ư?
Nên ở ✅ Đây giải thích rằng: Có lúc ta nói thí dụ Phật như cát sông Hằng, không có lỗi tương vi. Vì sao? Vì ta nói cát sông Hằng, chẳng phải cho là nhiều, vì có ý nghĩa sâu xa. Sau đây dùng bảy thứ nghĩa thâm sâu để giải thích.
Thí như cát sông Hằng tất cả cá, rùa, thân-thu-ma-la (sát tử ngư), sư tử, voi, ngựa, người, thú, giẫm đạp lên trên, cát không nghĩ rằng “Chúng não loạn ta” mà sanh vọng tưởng, tự tánh thanh tịnh không có các cấu uế.
Như Lai Ứng cúng Đẳng chánh giác tự giác thánh trí như sông Hằng, đại lực thần thông tự tại, nhiều như cát, tất cả ngoại đạo, người, thú... tất cả não loạn, Như Lai không khởi nghĩ mà sanh vọng tưởng.
Như Lai tịch nhiên không có niệm tưởng, vì Như Lai vốn nguyện đem tam-muội lạc làm an lạc chúng sanh nên không não loạn, cũng giống như cát sông Hằng không khác, lại vì đoạn tham nhuế.
Đây thí dụ để hiển pháp thân lìa niệm.
Như Lai tự giác thánh trí pháp tánh như sông, đại lực tự tại thần thông... như cát trong sông Hằng, tuy bị giẫm đạp mà không khởi niệm tưởng não loạn. Các ngoại đạo thiên ma... não loạn Như Lai mà Như Lai tịch nhiên không sanh một niệm tâm chán bỏ. Vì được sức giữ gìn của tam-muội bổn nguyện lợi ích chúng sanh, lại vì đoạn tập khí tham nhuế ái tăng từ vô thủy. Do trí ly niệm này nên như cát sông Hằng, chẳng phải chỉ có nghĩa là nhiều. Dùng duyên Bồ-đề để duyên với chúng sanh khổ, nên nói bổn nguyện tam-muội lạc.
Thí như cát sông Hằng, là tự tánh của đất, khi kiếp tận bị thiêu đốt, thiêu tất cả đất đai, mà địa đại kia không bỏ tự tánh, vì cùng sanh chung với hỏa đại. Ngoài ra hàng ngu phu khởi tưởng đất bị thiêu đốt, mà đất không bị thiêu đốt, vì do lửa làm nhân.
Như thế này Đại Huệ! pháp thân của Như Lai như cát sông Hằng không hoại.
Đây là thí dụ để hiển pháp thân không hoại.
Pháp thân Như Lai nơi vô tình gọi là pháp tánh, nơi hữu tình gọi là Phật tánh, nên nói như cát là tự tánh của đất.
Vô tình thế giới thành trụ hoại không, hữu tình chúng sanh sanh lão bệnh tử, tuy bị tám tướng dời đổi, lửa vô minh tam độc đốt cháy mà pháp thân trạm nhiên không từng bị tổn hoại trong khoảng ấy.
Vì sao? Vì cùng có vô sanh không hai.
Như Lai địa bị thiêu mà cát không mất tự tánh, vì cát cùng lửa sanh chung.
Người ngu cho là đất bị thiêu cháy mà đất thật không bị thiêu, vì đất dùng lửa làm nhân, lửa hay sanh đất, nên lửa là nhân của đất. Để dụ cho ngu phu cho là tam độc hỏa thiêu pháp thân cũng hoại, mà pháp thân thật không hoại. Vì sao? Vì phiền não tam độc là nhân của pháp thân.
Đại Huệ! thí như cát sông Hằng không có hạn lượng, ánh sáng của Như Lai cũng lại như thế không có hạn lượng, vì thành thực chúng sanh, chiếu khắp tất cả đại chúng của chư Phật.
Đây là dụ pháp thân không hạn lượng.
Luận nói: “Chính vì tự thể có nghĩa đại trí tuệ quang minh, nghĩa chiếu khắp pháp giới”.
Lại nói: “Vì trí tánh tức sắc, tên là pháp thân biến tất cả nơi chốn. Sắc biến hiện không có giới hạn, tùy tâm có thể thị hiện mười phương thế giới, vô lượng Bồ-tát, vô lượng báo thân, vô lượng trang nghiêm mỗi mỗi sai biệt, đều không có chừng hạn, mà chẳng chướng ngại nhau.
Đây chẳng phải chỗ tâm thức phân biệt có thể biết, vì là nghĩa dụng tự tại của chân như”. Vì vậy nói ánh sáng không có hạn lượng.
Đại Huệ! thí như cát sông Hằng, ngoài ra không có loại cát khác.
Như thế này Đại Huệ! Như Lai Ứng cúng Đẳng chánh giác, không có sanh tử sanh diệt vì đã đoạn nhân duyên ba cõi.
Đây là dụ cho pháp thân nhất tướng.
Nghĩa là pháp thân xa lìa sanh trụ dị diệt vì đã vĩnh viễn đoạn diệt nhân sanh tử trong ba cõi. Luận nói: “Xưa nay bình đẳng, vì đồng nhất giác”, nên nói thí như cát sông Hằng, ngoài ra không có loại cát khác.
Đại Huệ! thí như cát sông Hằng, không tăng không giảm. Như thế, này Đại Huệ! trí tuệ Như Lai thành thục chúng sanh không tăng không giảm vì chẳng phải thân pháp. Thân pháp có hoại, pháp thân Như Lai chẳng phải thân pháp.
Đây là dụ pháp thân lìa lỗi sanh diệt.
Luận nói: “Một là thể đại, nghĩa là tất cả pháp chân như bình đẳng không tăng không giảm.” Nói trí tuệ Như Lai là đứng về mặt thành thục chúng sanh mà nói.
Không tăng không giảm là đứng về mặt quyền trí lợi vật, tức mười phương vô lượng chúng sanh đều nhận lấy trí tuệ Như Lai mà Như Lai không giảm, đều khế hợp Phật tâm, cũng không chỗ tăng.
Chính là chỗ mình vì người, mình càng có; mình cho người mình lại tăng.
Vì sao? Vì pháp thân chẳng phải thân (Đường dịch: Thí như cát sông Hằng, lấy đi không thấy giảm, ném thêm vào không thấy tăng, chư Phật cũng thế, dùng trí phương tiện thành thục chúng sanh, không giảm không tăng, vì sao? Vì pháp thân Như Lai không có tướng thân).
Như cát sông Hằng không thể ép ra dầu (Hai bản dịch đều có bốn chữ “Đại Huệ! thí như”).
Như thế tất cả chúng sanh cực khổ bức bách Như Lai, cho đến chúng sanh chưa được Niết-bàn, không bỏ pháp giới tự tam-muội nguyện lạc, vì đại bi vậy.
Đây là dụ để hiển đồng thể đại bi.
Bởi do nghiệp tánh chúng sanh trọn vẹn là pháp thân Như Lai, thế nên chúng sanh chịu khổ cùng tột đều là bức bách Như Lai. Vì vậy, chúng sanh chưa trọn vẹn Niết-bàn thì Như Lai cũng không được thường lạc ngã tịnh.
Vì lý do đó, cho đến một chúng sanh nhỏ nhiệm chẳng nhập Niết-bàn, Như Lai cũng không bỏ pháp giới, tự tam-muội nguyện lạc, sự nghiệp độ sanh, vì đồng thể đại bi giữ gìn. Dầu dụ cho tâm sân.
Ngụy dịch rằng: Chư Phật Như Lai bị các chúng sanh khổ não ép ngặt, cũng chẳng sân.
Đại Huệ! thí như cát sông Hằng theo nước trôi đi, chẳng phải không nước.
Như thế Đại Huệ! Như Lai nói tất cả pháp theo dòng Niết-bàn, cho nên nói như cát sông Hằng.
Như Lai không theo các thứ lưu chuyển trôi đi, vì trôi đi là nghĩa hoại. Đại Huệ! bờ mé sanh tử không thể biết, vì không thể biết làm sao nói là trôi đi. Đại Huệ! đi là nghĩa đoạn, mà ngu phu không biết.
Đây dụ về ngôn thuyết pháp thân.
Cát dụ cho tất cả pháp sanh tử, nước dụ pháp thân pháp Niết-bàn.
Song pháp thân lưu chuyển trong năm đường, gọi là chúng sanh, nếu chúng sanh dùng vô minh nghiệp thức mà nói pháp Niết-bàn, thì pháp Niết-bàn đều theo dòng sanh tử.
Còn Như Lai dùng tự giác thánh trí nói pháp sanh tử, thì pháp sanh tử đều theo dòng Niết-bàn.
Không những pháp được nói theo Niết-bàn, mà ngôn thuyết cũng tức Niết-bàn, vì tướng ngôn từ tịch diệt.
Thế nên Như Lai nói các pháp không theo các lưu chuyển trôi đi. Sở dĩ không theo lưu chuyển, vì không thấy có pháp sanh tử, nên nói bờ mé sanh tử không thể biết.
Đã không thể biết bờ mé sanh tử, vì sao ta nói sanh tử có nghĩa trôi đi ư? Hơn nữa đi là nghĩa đoạn dứt, mà bờ mé sanh tử tức Niết-bàn thường trụ, vì sao lại nói đoạn dứt.
Chỉ vì điều này chẳng phải ngu phu có thể biết.
Trên nói pháp thân thường trụ.
Dưới nói sanh tử Niết-bàn bình đẳng.
D₂ - Nói bình đẳng như như
Đại Huệ bạch Phật rằng: Thế Tôn! Nếu chúng sanh bờ mé sanh tử không thể biết, làm sao giải thoát có thể biết.
Phật bảo Đại Huệ: Nếu nhân tập khí vọng tưởng lỗi hư vọng từ vô thỉ diệt, tự tâm hiện biết nghĩa bên ngoài, vọng tưởng thân chuyển giải thoát chẳng diệt (Đường dịch: Biết rõ cảnh bên ngoài do tự tâm hiện, phân biệt vô biên chẳng phải hoàn toàn không có, vì vọng tưởng tạo ra tên khác.
Quán sát trong ngoài lìa vọng tưởng, không có chúng sanh khác, trí và nhị diệm, tất cả các pháp, thảy đều tịch tĩnh (Đường dịch: Lìa tâm phân biệt, không có chúng sanh khác, dùng trí quán sát các pháp trong ngoài, người biết và vật được biết thảy đều tịch diệt). Không biết tự tâm hiện vọng tưởng nên vọng tưởng sanh, nếu biết ắt diệt.
✅ Đây nói về sanh tử Niết-bàn xưa nay bình đẳng, để hiển Phật giới như, chúng sanh như, một như không có hai như.
Đường dịch: “Nếu bờ mé sanh tử không thể biết, làm sao chúng sanh ở trong sanh tử mà được giải thoát.”
Ý Đại Huệ cho rằng lìa ngoài sanh tử riêng cầu giải thoát. Phật nói: “Bờ mé (bổn tế) sanh tử tức là Niết-bàn”.
Do chúng sanh mê bổn tế mà bị sanh tử, nên có tập khí vọng tưởng lỗi ác hư ngụy từ vô thỉ làm nhân. Đây là lý do vọng thấy ngoài tâm thật có các pháp, nay chỉ cần diệt tập khí vọng tưởng ấy, ắt có thể biết rõ ngoài tâm không pháp, ngay vọng tưởng ấy lại là Niết-bàn, chẳng phải lìa ngoài vọng tưởng này riêng có Niết-bàn, nên nói vọng tưởng thân chuyển giải thoát chẳng diệt.
Vì thế vô biên chẳng phải hoàn toàn không có, do bản tế toàn bộ thành vọng tưởng, tức vọng tưởng này là tên khác của bản tế. Bản Ngụy dịch: Bổn tế là tâm phân biệt, một thể khác tên, lìa tâm phân biệt lại không có chúng sanh, đây là bổn tế tức vọng tưởng, vọng tưởng tức chúng sanh, nên bổn tế Như mà chúng sanh cũng Như, vì đều là Như vậy.
Dùng trí quán sát các pháp trong ngoài, năng tri và sở tri thảy đều tịch diệt, chỉ vì không rõ vọng tưởng ngôn thuyết tự tâm sanh nên vọng tưởng sanh.
Nếu rõ duy tâm, tức vọng tưởng chóng diệt, từ đây mà quan sát sanh tử Niết-bàn vốn không hai nơi, chỉ ở trong khoảng mê ngộ, hết thảy đều do tự tâm chuyển biến, há lại có cái bên ngoài ư?
Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa này bèn nói kệ:
Quán sát các đạo sư
Cũng như cát sông Hằng
Không hoại cũng không đi
Cũng lại không cứu cánh
Thế đó là bình đẳng.
Đây là tụng pháp thân bình đẳng. Bởi chẳng hoại chẳng dời cũng chẳng phải cứu cánh đoạn diệt. Đây sở dĩ là bình đẳng như như.Quán sát chư Như Lai
Cũng như cát sông Hằng
Thảy lìa tất cả lỗi
Theo dòng mà tánh thường
Thế là Phật chánh giác.
✅ Đây tụng pháp thân thường trụ. Do theo dòng mà tánh thường, chính là nghĩa chân thật thường trụ.
Trên nói pháp thân thường trụ để hiển tướng sanh tử Niết-bàn bình đẳng xong.
Dưới nêu tạng tâm tự tánh để hiển tướng chân vọng sanh diệt bình đẳng.
C₅ - Chỉ tạng tâm tự tánh để hiển tướng chân vọng sanh diệt bình đẳng
Lúc ấy Bồ-tát Đại Huệ lại bạch Phật: Thế Tôn! Cúi xin vì nói tất cả pháp tướng sát-na hoại. Thế Tôn! Thế nào tất cả pháp sát-na?
Đây sắp hiển bày chúng sanh Như, nên hỏi về pháp sát-na sanh diệt.
Bản Ngụy dịch: “Vì con nói tướng sanh diệt của tất cả pháp. Vì sao Như Lai nói tất cả pháp niệm niệm chẳng trụ”. Tất cả pháp ấy, nói tột cùng là pháp thế xuất thế thánh phàm, đều gồm hết.
Nói lược là pháp thân tâm năm uẩn của chúng sanh, nói chung đều nằm trong sanh diệt nên gọi là chúng sanh. Nếu dùng vọng tâm phân biệt thì đều là pháp diệt, tức là chỗ ban đầu Đại Huệ hỏi trăm lẻ tám câu đó vậy.
Ở trước Đại Huệ đặt câu hỏi, Thế Tôn bài xích chung mà nói rằng “phi”, ý hiển bày vì trong lý chân như vốn không có việc này. Nay một phen đứng trong môn sanh diệt đem năm pháp ba tự tánh tám thức hai vô ngã... mỗi mỗi khai thị, cho đến chân vọng nhất như, cứu cánh đã cùng cực.
Lại sắp nói rõ sanh diệt vốn như, để hiển không riêng Phật giới Như mà chúng sanh giới cũng như như. Vì Đại Huệ đã nghe pháp thân thường trụ, nên ở đây đặc biệt nêu lên pháp sanh diệt để hỏi. Vì pháp chân vọng không ra khỏi nhất tâm, nên Thế Tôn gom về Như Lai tạng để nêu ra.
Phật bảo Đại Huệ: Lắng nghe! Lắng nghe! Khéo suy nghĩ đó sẽ vì ông nói.
Phật bảo Đại Huệ: Tất cả pháp là thiện bất thiện vô ký, hữu vi vô vi, thế gian xuất thế gian, có tội không tội, hữu lậu vô lậu, thọ chẳng thọ
(Ngụy dịch: Pháp trong pháp ngoài. Đường dịch: Pháp có thọ, pháp không thọ).
Đại Huệ! nói giản lược thì tâm ý, ý thức và tập khí là nhân của năm thọ ấm, là tập khí tâm, ý, ý thức trưởng dưỡng (Đường dịch: Nếu chỗ cần yếu mà nói, thì pháp ngũ thọ uẩn do tập khí tâm, ý, ý thức làm nhân mà được tăng trưởng). Phàm ngu vọng tưởng thiện, bất thiện. Đại Huệ! tu tam-muội lạc, tam-muội chánh thọ hiện pháp lạc trụ, gọi là thiện vô lậu của hiền thánh (Đường dịch: Phàm ngu ở nơi đây mà sanh phân biệt, cho rằng thiện, bất thiện, thánh nhân hiện chứng tam-muội lạc trụ. Đây gọi là pháp thiện vô lậu).
✅ Đây nói về pháp thế xuất thế thánh phàm tất cả đều nương ngũ uẩn, thân tâm mà có.
Nghĩa là tất cả pháp, nói chung không ra khỏi thế, xuất thế gian thiện ác vô ký và pháp hữu vô, tâm cảnh, hữu lậu, vô lậu thôi.
Các pháp này dùng năm uẩn thân tâm làm nhân. Song, phàm ngu chấp năm uẩn này cho là thật có, nên cứ y cứ vào đó tạo ra các nghiệp tội hữu lậu về thiện ác, vô ký của thế gian.
Ngoại đạo không biết năm uẩn vô ngã nên vọng chấp cho là thần ngã, khởi lên kiến chấp có không, nên nói là sanh diệt.
Hàng thánh nhân xuất thế do sức tam-muội quán năm uẩn thân tâm này như huyễn như hóa, hiện trụ pháp lạc mà thành pháp thiện vô lậu, nên nói là không sanh diệt.
Chung cuộc đều chỉ một thân tâm năm uẩn, bởi do chỗ thấy không đồng nên có thánh phàm khác biệt.
Căn cứ trên chỗ thật mà luận thì thảy đều không lìa sanh diệt, gọi đó là sát-na. Vì sao? Vì đều chưa lìa tâm ý thức.
Nói rằng tâm Bồ-đề sanh, tâm sanh diệt diệt, cũng là sanh diệt; chỉ còn thấy có tâm sở đắc đều là sanh diệt, huống vọng chấp phân biệt. Song pháp sanh diệt này vốn tự vô sanh, vì sao? Vì đều chẳng lìa Như Lai tạng. Trong Như Lai tạng vốn không có đến đi mê ngộ sanh tử mà các pháp kia lại há có sanh diệt ư? Thế nên biết sát-na là vọng kiến vậy.
Đại Huệ! thiện bất thiện là tám thức, những gì là tám? Là Như Lai tạng tên là thức tạng, tâm, ý, ý thức và năm thức thân, chẳng phải chỗ ngoại đạo nói.
✅ Đây nói Như Lai tạng là nhân của thiện bất thiện, để hiển sanh diệt vốn chẳng sanh diệt.
Bởi đoạn trên nói các pháp sanh diệt không ngoài thiện và bất thiện, nay nói pháp thiện ác đều là tám thức. Tám thức tức Như Lai tạng, mà Như Lai tạng vốn chẳng sanh diệt, tức là tám thức kia tuy sanh diệt mà cũng chẳng sanh diệt.
Vì sao? Vì Như Lai tạng tùy theo huân biến của duyên nhiễm và tịnh. Nếu vô minh huân chân như, Như Lai tạng theo duyên nhiễm mà khởi, tức gọi là tám thức mà có sanh diệt. Nếu chân như nhuần vô minh thì Như Lai tạng theo duyên tịnh mà khởi, tức tám thức tên Như Lai tạng mà không sanh diệt.
Thế là nhiễm tịnh tùy duyên khởi diệt tự nơi khác, mà Như Lai tạng tánh trạm nhiên thường trụ, trọn không có tướng sanh diệt thiện ác khứ lai. Đây không phải chỗ biết của ngoại đạo.
Luận Khởi Tín nói: “Y cứ vào vô minh huân tập khởi lên thức, chẳng phải phàm phu có thể biết, cũng không phải chỗ biết của trí tuệ Nhị thừa, cho đến Bồ-tát ở địa vị rốt ráo không thể biết hết.
Chỉ có Phật mới biết tận cùng, vì sao? Tâm ấy từ xưa đến nay tự tánh thanh tịnh mà có vô minh, vì vô minh nhiễm nên có tâm nhiễm kia, tuy có tâm nhiễm mà thường hằng bất biến.
Cho nên nghĩa này chỉ Phật mới có thể biết. Lại nói: Nghĩa huân tập có hai thứ: Một là căn bản huân tập vì nghĩa hay thành tựu nghiệp thức, hai là sở khởi kiến ái huân tập vì nghĩa hay thành tựu phân biệt sự thức”.
Thế nên ở Đây nói Như Lai tạng tên là thức tạng, tâm ý ý thức và năm thức thân. Song, trước nói sanh diệt là các thức, nay đến chỗ này nói không sanh diệt cũng là các thức, vì thức tạng tức Như Lai tạng.
Đại Huệ! năm thức thân ấy, tâm, ý, ý thức, chung thiện và bất thiện cùng lần lượt biến hoại, tiếp nối lưu chú, thân bất hoại sanh, cũng sanh cũng diệt (Đường dịch: Thể vô dị sanh, sanh rồi liền diệt. Không biết tự tâm hiện, thứ lớp diệt, thức khác sanh, hình tướng sai biệt nhiếp thọ).
✅ Đây nói trạng thái sanh diệt của năm thức trước.
Tâm ý ý thức chung, nghĩa là khi tiền ngũ thức khởi, mỗi mỗi không tự tánh, ắt phải nương đệ lục ý thức đồng thời khởi.
Song ý thức phải nương đệ thất thức ý căn, mà đệ thất thức thì nương trong và ngoài chuyển.
Nếu khi nương vào bên ngoài cùng với đệ lục thức chuyển, ắt bên trong nương vào đệ bát thức làm căn bản y, vì đệ thất thức vô thể.
Nên nói khi năm thức khởi ắt cùng tâm, ý, ý thức đồng thời mà chuyển, nên làm thiện làm ác lần lượt biến hoại, tiếp nối lưu chú, sanh diệt không ngừng.
Song vì đều chẳng lìa tự chứng phần của đệ bát thức, tuy mỗi mỗi rõ biết tự cảnh mà không sanh thể khác, nên nói thân bất hoại sanh.
Đã không sanh thể khác, thì tuy sanh mà không sanh, nên nói sanh rồi liền diệt. Nghĩa là chính khi sanh tức diệt, nên bài kệ sau nói vật sanh ắt có diệt.
Đây là hiển bày ý vô sanh chân thật. Chỉ do không biết tự tâm hiện, vọng thấy sanh diệt sai biệt chấp thủ.
Kỳ thật vốn tự vô sanh. Thứ lớp diệt, thức khác sanh đó là khi năm thức một niệm tối sơ tiếp cảnh chưa có phân biệt, gọi là hiện lượng.
Khi niệm thứ hai có phân biệt đẹp xấu, tiền ngũ thức đã dứt, liền thuộc đệ lục minh liễu ý thức, khởi tâm phân biệt hình tướng tốt xấu sai biệt mà sanh chấp thủ, nên nói thứ lớp diệt, thức khác sanh.
Ý thức, năm thức, cùng tương ứng sanh, sát-na chẳng trụ gọi là sát-na.
✅ Đây nói về trạng thái sanh diệt của đệ lục thức.
Bởi ý thức không tự sanh, phải đợi khi ngũ thức duyên cảnh rồi ý thức đồng thời tương ứng mà khởi, nên Đường dịch rằng: “Cùng năm thức kia chung, chấp giữ các hình tướng sai biệt, sát na chẳng trụ, ta gọi đây là pháp sát-na”.
Do đây xem xét năm thức, thức thứ bảy, thức thứ tám đều vốn bất sanh. Chỗ lý do sanh diệt chỉ là ý thức thôi.
Nên hai quyển trước trong chương Niết Bàn nói: thức vọng tưởng diệt gọi là Niết-bàn. Đối chiếu văn đây và văn trước để xem xét, tự sẽ thấy rõ được ý chỉ thâm sâu.
Đại Huệ! sát-na tên là thức tạng Như Lai tạng (Ngụy dịch: A-lê-da thức tên là Như Lai tạng. Đường dịch: Như Lai tạng tên là thức tạng) ý câu sanh thức tập khí sát-na, tập khí vô lậu chẳng phải sát-na; chẳng phải chỗ biết của phàm ngu. Vì chấp trước luận sát-na, không biết tất cả pháp sát-na chẳng phải sát-na, do đoạn kiến nên hoại pháp vô vi.
Đây là chánh hiển sanh diệt vốn chẳng sanh diệt, để rõ nghĩa bất biến tùy duyên tùy duyên bất biến.
Ý rằng, nói sát-na đó chẳng phải cái gì khác, chính là thức tạng vậy. Thức tạng tức Như Lai tạng, song Như Lai tạng đã chẳng phải sát-na, thì thức tạng lại há là sát-na ư? Thế là sát-na chẳng phải sát-na, đủ biết sanh diệt vốn chẳng sanh diệt.
Bởi sanh diệt kia chẳng phải thức tạng mà là đệ lục thức trong thất thức câu sanh, nó bị nhiễm ô bao trùm vì huân biến của tập khí hữu lậu mà tự sanh diệt. Thế là sanh thì theo duyên sanh, diệt theo duyên diệt, cùng với tạng thể của ta rõ ràng không can thiệp, nên nói ý câu sanh thức tập khí sát-na.
Nếu đem tập khí vô lậu huân vào thì sanh diệt kia cũng là bất sanh diệt, nên nói tập khí vô lậu chẳng phải sát-na.
Nhưng điều này chẳng phải phàm phu biết được. Do họ chấp trước về luận sát-na, do họ không biết tất cả pháp sát-na vốn chẳng phải sát-na, nên vọng chấp chân như vô vi cùng đồng các pháp hoại diệt, nên rơi vào đoạn kiến sát-na.
Ngụy dịch văn tuy không hay mà nghĩa rõ ràng. Họ nói: “Sát-ni-ca tên là Không, A-lê-da thức tên là Như Lai tạng, vì không chung với huân tập của ý chuyển thức nên gọi là không”. Điều này phù hợp với luận Khởi Tín nói về nghĩa thứ nhất và thứ hai trong bốn nghĩa của thể tướng giác. Luận nói: “Thể tướng giác có bốn nghĩa lớn cùng hư không đồng, cũng như gương sáng sạch.
Thế nào là bốn? Một là gương như thật không, xa lìa tất cả tướng cảnh giới tâm thức, không pháp nào có thể hiện, vì không phải nghĩa giác chiếu. Hai là gương nhân huân tập, nghĩa là như thật bất không, tất cả cảnh giới thế gian thảy hiện trong đó, không ra không vào, không mất không hoại, thường trụ nhất tâm, vì tất cả pháp tức là tánh chân thật.
Lại tất cả pháp nhiễm lại không thể làm nhiễm, vì trí thể bất động, đầy đủ vô lậu huân chúng sanh vậy. Bản Ngụy dịch Không cùng huân tập với ý chuyển thức, tức là trong luận nói xa lìa tất cả tướng cảnh giới tâm. Đem điều này đối chiếu đủ biết sanh diệt vốn chẳng sanh diệt.
Đại Huệ! thất thức chẳng lưu chuyển, không thọ khổ vui, chẳng phải là nhân Niết-bàn.
Đại Huệ! Như Lai tạng thọ khổ vui chung với nhân, hoặc sanh hoặc diệt, tử trụ địa vô minh trụ địa làm say, phàm ngu không giác ngộ, thấy sát-na, vọng tưởng huân tâm.
✅ Đây giải thích về nghĩa sanh vốn bất sanh ở trên.
Bình thường đều nói thất thức sanh diệt lưu chuyển đưa đến sanh tử. ✅ Đây nói thất thức không lưu chuyển, chính là hiển bày nghĩa thâm sâu của vô sanh. Thất thức sở dĩ không lưu chuyển vì không tự tánh.
Bởi các pháp sanh tử khổ vui thiện ác, người tạo tác là tiền lục thức, mà thọ huân trì chủng đến quả vị lai là thức thứ tám.
Còn thức thứ bảy không tạo không thọ nên không thể làm nhân sanh tử. Huống ngay sanh tức diệt nên không lưu chuyển.
Đã không thể làm nhân sanh tử, lại há có thể làm nhân Niết-bàn? Đã không thể làm nhân nhiễm tịnh ắt không tự tánh, điều này rõ ràng. Tự tánh đã không, ai sẽ chịu sanh diệt.
Song Như Lai tạng thanh tịnh, vốn chẳng sanh diệt không thọ khổ vui, chẳng phải nhân sanh tử, nay nói thọ khổ vui chung với nhân, hoặc sanh hoặc diệt, e rằng không phải Như Lai tạng.
Đó là tứ trụ phiền não, và duyên vô minh, bị những thứ này làm say nên có khổ vui cùng sanh tử chung vọng có sanh diệt. Tạng tánh này thể hằng thanh tịnh trạm nhiên thường trụ, sao lại thường có tướng sanh tử khổ vui sanh diệt?
Thế là xét kỹ trong ngoài, rõ biết rốt ráo không sanh diệt, mà phàm ngu không biết nghĩa này, vọng khởi kiến chấp sát-na, đó là vọng tưởng huân tâm, chẳng phải minh trí. Sau đây dùng dụ để rõ.
Lại nữa Đại Huệ! như vàng, kim cang, xá-lợi của Phật có tính chất kỳ đặc, trọn không tổn hoại.
Đại Huệ! nếu được vô gián (Ngụy dịch: Như Lai chứng pháp. Đường dịch: Nếu đắc các pháp) có sát-na, thánh đáng lẽ chẳng phải thánh, mà thánh chưa từng chẳng phải thánh, như vàng, kim cang, tuy trải qua nhiều kiếp, xứng lượng không giảm, tại sao phàm ngu không hiểu rõ lời nói ẩn mật của ta, đối với các pháp trong ngoài khởi tưởng sát-na.
Đây dùng thí dụ để kết thành tướng cứu cánh tịch diệt.
Nghĩa là Như Lai tạng tự tánh cứng chắc thanh tịnh, tuy ở trong sanh tử mà thể thường chẳng hoại như kim cang, xá-lợi Phật, vì được tính chất kỳ đặc.
Tất cả chư Phật chứng đó, dùng làm tự giác thánh trí vô thượng Niết-bàn, nơi tất cả chúng sanh được đó mà làm tâm tánh, gọi là pháp thánh phàm bình đẳng vô gián.
Nếu chúng sanh được tánh vô gián này lại có sanh diệt, thì thánh nhân được tánh vô gián này cũng chẳng phải thánh nhân.
Nay thánh nhân đã được đó chưa từng chẳng phải thánh, mà phàm phu được đó lại há là phàm phu thật ư?
Song tánh này đã như kim cang, tuy trải qua kiếp số xứng lượng không giảm, há có thể nơi thánh có tăng, nơi phàm lại giảm ư?
Đã thánh phàm bình đẳng, tại sao nơi một pháp lại có sanh diệt, nên nói tại sao người ngu không hiểu rõ lời nói ẩn mật của ta, đối với tất cả pháp trong ngoài khởi tưởng sát-na.
Kinh này chỉ thẳng nghiệp thức của chúng sanh chóng hiển bày Như Lai tạng tâm, nên từ quyển ban đầu chương sanh diệt dẫn khởi, những lời bàn luận biện rõ tà chánh nhân quả, đều y cứ vào sự mê ngộ của thức thứ tám mà lập.
Đến đây chỗ hiển bày hạnh lý nhân quả đã tột cùng, nên lại kết thúc quy về Như Lai tạng thức tạng.
Nay nói thức thứ tám vốn chẳng sanh diệt để nêu lên bình đẳng như như, để hiển từ cửa sanh diệt vào cửa chân như, hội quy nhất tâm để làm cứu cánh.
Đây là ý chỉ bao quát, nên sau đây lại nói về tu vốn vô tu vô đắc, chỉ pháp thân lìa lỗi, để kết thúc chỗ nói ra.
Về sau, trong phần văn kệ nói không, vô thường, sát-na lẽ ra thuộc về phần này, mà người dịch để lầm, người xem hiểu chỗ này thì lý càng sáng tỏ.
Trên hiển tướng sanh diệt bình đẳng xong.
Dưới nói lục độ để chỉ tướng diệu hạnh vô tu.
C₆ - Nói lục độ để chỉ tướng diệu hạnh vô tu
Đại Huệ bạch Phật rằng: Thế Tôn! Như Thế Tôn nói lục ba-la-mật đầy đủ được thành chánh giác. Những gì là lục? (Hai bản dịch đều có câu “Thế nào là đầy đủ?”)
✅ Đây nói rộng về Lục độ để chỉ bày diệu hạnh vô tu vô đắc, để thành tựu nghĩa bình đẳng trên.
Nhân ở trước một phen nói: “Chỉ biết rõ tự tâm hiện lượng, chứng tự giác thánh trí, tức gọi là Phật.”
Thế là không cần nhiều kiếp rộng tu Lục độ. Tại sao Thế Tôn ở nơi các kinh khác thường nói đầy đủ Lục độ mới được thành Phật? Đây là thánh giáo tương vi.
Chỉ không biết những gì là Lục độ, nay nói thành Phật như thế nào đầy đủ, nên nêu câu hỏi này.
Sau đây Thế Tôn đáp có ba thứ Lục độ, tức ở Đây nói mãn túc đó, vì một niệm đốn tu cũng chẳng cần trải qua nhiều kiếp, để rõ vô tu vô đắc, để chỉ cứu cánh trí như như.
Phật bảo Đại Huệ! ba-la-mật có ba thứ phân biệt, nghĩa là thế, xuất thế gian, xuất thế gian thượng thượng.
Đại Huệ hỏi Phật những gì là Lục độ mà Thế Tôn đáp có ba thứ. Thế gian tức hạnh của trời người, xuất thế gian tức hạnh của Nhị thừa, xuất thế gian thượng thượng là hạnh nhất thừa.
Đại Huệ! thế gian ba-la-mật, ngã ngã sở nhiếp thọ chấp trước, nhiếp thọ hai bên, vì thọ sanh các chốn ưa thích sắc, thanh, hương, vị, xúc nên đầy đủ Đàn ba-la-mật (Đường dịch: Nghĩa là các phàm ngu chấp trước ngã ngã sở, chấp giữ hai bên, vì mong cầu các thân hình, tham các cảnh sắc... như thế mà tu hành Đàn ba-la-mật).
Các độ giới, nhẫn, tinh tấn, thiền định, trí tuệ cũng như thế.
Phàm phu thần thông mà sanh Phạm thiên.
✅ Đây nói về Lục độ hữu lậu thế gian.
Nghĩa là phàm ngu chấp tướng tu hạnh bố thí, bèn chấp có ta hay thí, chấp có vật được thí, căn cứ vào hai kiến chấp có không, để cầu vị lai thọ sanh cõi nhân thiên thù thắng, là cảnh giới lục trần đầy đủ ngũ dục mà hành bố thí, cho đến giới...
Năm độ kia cũng như thế. Do nhân hữu lậu cảm quả hữu lậu, nên được sanh Phạm thiên, được ngũ thông của phàm phu, không lìa sanh tử, nên xưng là thế gian.
Vĩnh Gia nói: “Trụ tướng bố thí phước sanh thiên, cũng như ngửa mặt bắn hư không, sức hết tên lại rơi xuống đất, cảm đến đời sau bất như ý”, là đây vậy.
Đại Huệ! xuất thế gian ba-la-mật, Thanh văn Duyên giác vì rơi vào nhiếp thọ Niết-bàn, thực hành lục ba-la-mật, vui với cái vui Niết-bàn tự kỷ.
✅ Đây nói Lục độ của Nhị thừa.
Nghĩa là hàng Nhị thừa vì chán bỏ sanh tử, ưa hướng Niết-bàn, cầu nơi tự độ, tu tập sáu hạnh vô lậu yếu kém, nên không được làm Phật, vì trước tướng Niết-bàn vậy.
Xuất thế gian thượng thượng ba-la-mật, vì giác tự tâm hiện vọng tưởng lượng nhiếp thọ, và hai pháp tự tâm, không sanh vọng tưởng, đối với các nẻo thọ sanh không có phần, không chấp trước tự tâm sắc tướng, vì an lạc tất cả chúng sanh nên phát sanh Đàn ba-la-mật, khởi phương tiện thượng thượng.
✅ Đây nói hạnh tối thượng nhất thừa đầu tiên là bố thí độ.
Nghĩa là Đại Bồ-tát thấu rõ duy tâm hiện lượng, đối hai pháp trong ngoài của tự tâm khởi quán như thật, biết rằng chỉ là vọng phân biệt hiện.
Thực hành bố thí, khéo đạt tam luân không tịch, không khởi vọng tưởng về người thí, không sanh chấp trước về người nhận, không chấp giữ sắc tướng của vật thí.
Chỉ vì an lạc tất cả chúng sanh, mà thường hành bố thí, nên dùng sự xả bỏ chướng pháp tánh làm đàn độ.
Luận nói “Ở trong pháp chân như thâm giải hiện tiền, chỗ tu lìa tướng, vì biết thể của pháp tánh không có san tham, tùy thuận tu hành đàn ba-la-mật”.
Song đàn ba-la-mật có thể nắm trọn cả Lục độ.
Luận nói: “Nghĩa của đàn độ nhiếp trong Lục độ, sanh ra pháp vô úy”.
Trong đây bố thí, trì giới, nhẫn nhục gọi là tu hành trụ, nên nói phương tiện thượng thượng.
Tức nơi duyên chẳng lìa vọng tưởng, là Thi-ba-la-mật.
Đây là giới độ.
Phạn ngữ nói đủ Thi-la, Trung Hoa dịch là thanh lương, lại nói chỉ đắc, chính dịch là giới.
Gọi là giới ở đây chẳng phải có tướng tác trì, mà là tánh giới. Các độ khác cũng vậy, tức nơi duyên kia chẳng sanh vọng tưởng giới, nghĩa là đối với chỗ thí và thọ kia, tất cả cảnh duyên nhiễm tịnh, vọng tưởng không sanh ắt là tự tánh thanh tịnh.
Giới tướng như không, có gì là trì phạm, dùng tánh tịnh làm giới độ. Luận nói “Vì biết pháp tánh vô nhiễm, vì lìa lỗi ngũ dục, tùy thuận tu hành Thi-ba-la-mật”.
Tức nơi vọng tưởng kia không sanh nhẫn, biết nhiếp sở nhiếp, là Sằn-đề ba-la-mật.
Đây là nhẫn độ.
Phạn ngữ Sằn-đề, Trung Hoa dịch là An nhẫn, lại gọi là nhẫn nhục.
Do tâm hay an nhẫn cảnh bị nhục bên ngoài, nên gọi là nhẫn nhục.
Nghĩa là tức đối với chỗ trì phạm kia vọng tưởng chẳng sanh, dùng pháp vô sanh này, nhẫn chịu nơi tâm, là vô sanh nhẫn, chẳng phải gọi là nhẫn nhục.
Song vô sanh không phải là chỗ bị nhẫn, mà gọi là nhẫn vì biết năng thủ sở thủ tánh không tịch, dùng đây làm nhẫn độ vậy. Luận nói “Do biết pháp tánh không khổ, vì lìa sân não, tùy thuận tu hành Sằn-đề ba-la-mật”.
Đầu giữa cuối đêm, phương tiện tinh tấn, tùy thuận tu hành phương tiện, vọng tưởng không sanh, là Tỳ-lê-da ba-la-mật.
Đây là Tinh tấn độ.
Phạn ngữ Tỳ-lê-da, Trung Hoa dịch là Tinh tấn. Do xứng hợp như thật tu hành, đối với phương tiện tu hành cũng không khởi tưởng là phương tiện.
Kinh Pháp Hoa nói: “Chóng xả chấp hai bên là chân tinh tấn”, nên lấy đây làm Tấn độ. Luận nói: “Do biết pháp tánh không có tướng thân tâm, vì lìa giải đãi, tùy thuận tu hành Tỳ-lê-da ba-la-mật”.
Vọng tưởng thảy đều diệt, không rơi vào nhiếp thọ Niết-bàn của Thanh văn, là Thiền ba-la-mật.
Đây là Thiền độ.
Phạn ngữ nói đủ là Thiền-na, Trung Hoa dịch là Tu duy tu, chính dịch là Tịnh lự. Nghĩa là tâm ý ý thức vọng tưởng hết thảy đều diệt, mà dùng đại bi đại nguyện cứu độ chúng sanh.
Tuy được Niết-bàn mà không thủ chứng nên không rơi vào Niết-bàn của Thanh văn, vì thiền Nhị thừa có chấp thủ. Đây do không thủ Niết-bàn làm thiền độ. Luận nói “Do biết pháp tánh thường định, vì thể không loạn nên tùy thuận tu hành thiền ba-la-mật”.
Tự tâm vọng tưởng phi tánh, trí tuệ quán sát, không rơi vào hai bên, thân trước chuyển thắng mà không thể hoại, được tự giác thánh thú, là Bát-nhã ba-la-mật.
Đây là Trí độ.
Phạn ngữ Bát-nhã, Trung Hoa dịch là trí tuệ. Nghĩa là rõ biết tướng tam giới, từ tự tâm vọng tưởng hiện, chẳng phải thật có. Dùng trí tuệ quán sát, không rơi vào hai kiến chấp có không mà pháp thân chuyển thắng, biết rõ chỗ không sanh diệt mà không thể hoại, được vào tự giác thánh trí thú, dùng đây làm Trí độ. Luận nói “Vì thể pháp tánh sáng suốt, vì lìa vô minh, tùy thuận tu hành Bát-nhã ba-la-mật”.
Lục độ này, đều đứng về tánh mà tu. Hoa Nghiêm nói “Tâm thường không hòa hợp với tâm thế tục gọi là tinh tấn, bi trí đều có lợi cho đời, không đi chung với thức, gọi là thiền định, đã noi theo diệu trí của quả Phật xuất thế, gọi là trí tuệ, do đều xứng tánh mà tu, nên tu mà không tu”. Đây là chỗ một niệm đầy đủ vô thượng Bồ-đề, nên nói không có tướng sở đắc, đó là chỗ tu hành như thật.
Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn lặp lại ý trên bèn nói kệ:
Không, vô thường, sát-na
Ngu phu khởi vọng tưởng
Như sông, đèn, hạt giống
Mà khởi tưởng sát-na.
Sát-na dứt phiền loạn
Tịch tịnh lìa tạo tác
Tất cả pháp chẳng sanh
Ta nói nghĩa sát-na.
Vật sanh ắt có diệt
Không vì người ngu nói.
(Ngụy dịch: Mới sanh ắt có diệt)
Đây là tụng về nghĩa của chương sát-na trước. Người dịch lầm để ở đây.
Nghĩa là người ngu vọng tưởng phân biệt các pháp cho là thật có, chấp cho là thường. Nên Thế Tôn nói không, vô thường sát-na, như sông chảy, như ánh đèn, như hạt giống dời đổi nhanh chóng, sát-na không dừng để phá cái chấp của họ. Người ngu không biết rõ ý sâu kín, lại chấp ngôn thuyết cho là thật, rồi quyết định khởi tưởng sát-na. Đâu không biết pháp sát-na vốn chẳng phải sát-na, dứt động loạn, đương thể tịch tĩnh, lìa chỗ được tạo tác. Các ông vọng khởi cái thấy sanh diệt, vì tất cả pháp vốn tự vô sanh nên ta mới nói nghĩa sát-na. Song tất cả pháp ngay khi sanh liền diệt, đương thể vô sanh. Nghĩa vô sanh này, há có thể nói cho người ngu ư? Nên nói mới sanh liền có diệt, không vì người ngu nói. Lăng Nghiêm nói: “Ngay chỗ phát sanh liền theo đó diệt tận, huyễn vọng gọi là tướng, mà tánh kia thật là diệu giác minh thể”. Điều này há dễ nói cho người ngu ư?
Tánh vô gián tiếp nối
Bị vọng tưởng huân tập
Vô minh làm nhân kia
Tâm ắt theo đó sanh.
Cho đến sắc chưa sanh
Khoảng giữa có phần gì
(Ngụy dịch: Nếu vô minh làm nhân
Hay sanh ra các tâm
Cho đến sắc chưa sanh
Khoảng giữa nương đâu trụ).
Thứ lớp tiếp nối diệt
Tâm khác theo đó sanh.
(Ngụy dịch: Vừa sanh liền vừa diệt)
Khi không trụ nơi sắc
Duyên chỗ nào mà sanh
Vì theo kia mà sanh
Nhân sanh không như thật.
Làm sao không chỗ thành
Mà biết sát-na hoại.
(Đường dịch: Nếu duyên kia tập khởi
Nhân ấy ắt hư vọng
Nhân vọng thể không thành
Làm sao sát-na diệt.)
✅ Đây tụng lần lượt phát minh tâm cảnh vô sanh, để giải thích nghĩa sát-na chẳng phải sát-na.
Nghĩa là ba cõi trên dưới sáu đường qua lại, vốn từ chỗ rỗng không, không một vật, đương thể thường trụ, trọn không có mảy may tướng khởi diệt.
Nếu cho rằng tướng sanh diệt tiếp nối trong sáu nẻo, do sự huân tập của vọng tưởng, vô minh làm nhân, tâm theo cảnh kia mà có sanh diệt.
Đây cũng chẳng phải. Vì sao? Nếu quả có sắc cảnh làm duyên cho tâm, mới nói tâm theo đó sanh.
Nếu khi sắc chưa sanh thì tâm ấy lại trụ vào pháp nào mà sanh phân biệt? Nên nói: Cho đến sắc chưa sanh, khoảng giữa nương đâu trụ.
Thế thì chấp tâm từ cảnh sanh là vọng, nên Bát Nhã nói: “Không nên trụ sắc sanh tâm”.
Bởi không trụ sắc sanh tâm là vì vốn vô sanh, nếu cho rằng các pháp tiếp nối thứ lớp sanh diệt, mà các tâm tâm sở khác cũng nhân tùy theo cảnh giới kia biến diệt mà sanh, điều này không đúng. Vì sao? Nếu cảnh sắc ấy quả thật có trụ, mới có thể nói tùy theo cảnh kia sanh.
Còn các pháp kia ngay nơi phát sanh liền tùy chỗ diệt tận, tự thể vắng lặng, trọn không có các tướng sanh. Thế là sắc vốn không trụ, sắc đã không trụ, lại còn có pháp nào làm chỗ cho tâm duyên để sanh? Nên nói khi không trụ nơi sắc, duyên chỗ nào mà sanh. Đây ắt là chấp cảnh có sanh diệt là vọng.
Sắc đã không trụ, ắt cảnh vốn không sanh. Nếu nói rằng nhân theo cảnh vô sanh ấy mà sanh tâm, nhân này như con của gái đá, cũng thành hư vọng. Cho nên nói vì theo kia mà sanh, nhân sanh không như thật. Nhân đã hư vọng, thì thể được sanh chẳng thành tựu. Vì sao đối với chỗ chẳng thành mà vọng thấy có pháp sát-na sanh diệt ư? Do đây mà quán sát, lần lượt xét kỹ, tâm cảnh tịch nhiên, đây là lý do ta nói sát-na. Sở dĩ không sanh diệt, vì tâm cảnh không đến nhau, nên kinh Lăng Nghiêm nói: “Thí như nước trong sông, tranh nhau mà trôi chảy, các pháp không biết nhau, mỗi mỗi cũng như thế”.
Bậc tu hành chánh thọ
Kim cang, xá lợi Phật
Cung điện trời Quang Âm
Thế gian việc không hoại.
Trụ nơi chánh pháp được
Như Lai trí đầy đủ
Tỳ-kheo được bình đẳng
Vì sao thấy sát-na.
Càn-thát-bà, huyễn thủy...
Sắc không có sát-na
Nơi sắc không thật thảy...
Quán đó như chân thật.
✅ Đây nói các pháp vô sanh, chỉ có mắt trí mới thấy rõ, chẳng phải chỗ của vọng tưởng tà kiến có thể biết.
Nghĩa là bậc tu hành như thật, ở trong chánh định, quán thế gian mỗi pháp mỗi pháp chân thường, đương thể kiên cố, cũng như kim cang, xá-lợi, cung điện Quang Âm thiên, thường trụ không hoại, vì cõi trời Quang Âm nước lửa không đến.
Song, người tu hành dùng định tâm quán sát còn biết được như thế, huống gì hàng Bồ-tát Bát địa an trụ chánh pháp, đã được đầy đủ thánh trí của Như Lai, hàng Tỳ-kheo chứng chân như bình đẳng, làm sao còn thấy các pháp lại có tướng sát-na sanh diệt ư?
Vả lại, tất cả pháp xưa nay không thật, như thành Càn-thát-bà, như huyễn, không có sát-na sanh diệt.
Đã là không thật, tại sao người nghe ở trong chỗ chẳng thật vọng cho là chân thật chấp tứ đại chủng là hay tạo sắc? Đã là đại chủng không thật, tại sao nói là hay tạo? Đây đều là ngu phu vọng kiến.
Văn tụng trên đây, nên theo chương Sát-na mà quán sát, nghĩa ấy tự rõ.
Trên nói về tướng diệu hạnh vô tu đã xong.
Dưới rộng phá các nghi, hiển chung pháp thân lìa lỗi.
C₇ - Rộng phá các nghi, hiện chung pháp thân lìa lỗi
Lúc bấy giờ Bồ-tát Đại Huệ lại bạch Phật rằng: Thế Tôn! Thế Tôn thọ ký A-la-hán được thành Vô thượng
chánh đẳng chánh giác, cùng các Bồ-tát bình đẳng không sai biệt. Tất cả chúng sanh pháp chẳng Niết-bàn, ai đến Phật đạo.
✅ Đây giải thích rộng các nghi, hiển bày chung pháp thân lìa lỗi.
Đại Huệ nhân những điều Thế Tôn đã nói lời lẽ rất trái nhau, e người sau không khéo hiểu mật ý sâu kín của Như Lai mà sanh nghi hoặc, nên ở đây mỗi mỗi nêu lên để làm sáng tỏ, để hiển bày pháp thân Như Lai hằng lìa các lỗi.
Những vấn đáp ở đây, chú xưa chia làm mười đoạn, nay xét kỹ mạch của từ ngữ và ý đáp, đối chiếu với hai bản dịch Đường-Ngụy, đều gom sáu đoạn nghi vấn trước thành hai đoạn, nên chỉ còn sáu nghi, mà ngữ ý vẫn liên tục.
Bởi Như Lai xuất thế, dùng thân khẩu ý tam luân ứng hợp, xa lìa các lỗi, nay trong sáu đoạn vấn đáp kia, chỗ thọ ký nói về thức lập bày bản tế... là khẩu nghiệp; kim cang hộ vệ gặp quỷ thọ báo... là thân nghiệp; không nói một chữ, thường định không tư duy quán sát... là ý nghiệp.
Do ba nghiệp thanh tịnh, nên chẳng phải thân hiện thân, không nói năng thị hiện nói năng, không suy nghĩ mà ứng hợp, không quán xét mà biết.
Đây chính là pháp thân biến khắp như trăng trong nước, không ra không vào nên hằng lìa các lỗi.
Cái nghi đầu tiên, Thế Tôn vì hàng Nhị thừa thọ ký làm Phật, không khác với Bồ-tát, bởi nhân ở chương lục độ, nói Thanh văn Duyên giác, vui với Niết-bàn của mình, tuy thực hành lục ba-la-mật, không thể thành Phật, đây tức là Nhị thừa và Bồ-tát khác nhau.
Vì sao ở trước, trong chương Bất định tánh, nói hàng Thanh văn ưa trụ tam-muội, sẽ được thân tối thắng của Như Lai?
Trong chương Diệt chánh thọ nói hàng Bồ-tát đệ lục địa cùng Thanh văn, Duyên giác đồng nhập diệt chánh thọ? Đây lại là Bồ-tát và Nhị thừa không khác.
Song Nhị thừa đã có phần thành Phật, vì sao trong chương sát-na, lại nói thất thức không lưu chuyển, không thọ quả khổ, chẳng phải nhân của Niết-bàn? Thức thứ bảy là thức của tất cả chúng sanh, đã nói không phải là nhân của Niết-bàn thì chúng sanh tuyệt không có phần thành Phật, mà hàng Nhị thừa cũng là chúng sanh. Đã là pháp chúng sanh không đến Niết-bàn, thì ai là người đến Phật đạo?
Từ khởi đầu thành Phật đến nhập Niết-bàn, ở trong khoảng giữa không nói một chữ, cũng không chỗ đáp, vì Như Lai thường định, cũng không suy nghĩ, cũng không quán sát, hóa Phật hóa làm Phật sự.
Trong đây lần lượt gồm có ba nghi, mà sau đây văn đáp hợp lại một nghĩa.
Nghĩa là trong chương Tứ đẳng, nói Như Lai có sáu mươi bốn thứ Phạm âm vì chúng sanh nói pháp.
Vì sao trong chương Bổn trụ lại nói từ buổi đầu thành Phật đến nhập Niết-bàn, trong khoảng giữa không nói một chữ mà trong chương Hằng sa lại nói Như Lai tịch nhiên, không có niệm tưởng.
Thế là tâm Như Lai thường ở tại định, không suy nghĩ không quán xét. Vả lại thuyết pháp là ý ngôn phân biệt, sao lại dùng nhiều thứ âm thanh mà thuyết pháp?
Trong chương Tứ đốn nói: Pháp thân Phật là lìa tâm tự tánh, nay không suy nghĩ không quán xét mà hay thuyết pháp ắt là Pháp thân Phật thuyết pháp, cớ sao lại nói hóa Phật hóa làm Phật sự?
Đây ắt là cái nghi này kéo theo cái nghi khác, nên mong Phật xác biệt.
Đây là kết hợp với chú giải xưa, ba nghi vấn gồm lại một.
Tại sao nói thức sát-na lần lượt tướng hoại.
Đây là nghi thứ ba.
Trong chương Sát-na nói thất thức không lưu chuyển, cớ sao lại nói năm thức thân tâm ý ý thức đều có tướng thiện bất thiện, lần lượt biến hoại tiếp nối lưu chú?
Lực sĩ kim cang thường theo hộ vệ.
Đây là nghi thứ tư, trong chương Hằng sa nói pháp thân Như Lai vượt qua sự trông mong thế gian, đó là tướng không thể thấy, lực sĩ kim cang lại theo hộ vệ cho ai?
Sao không lập bày bản tế?
Đây là nghi thứ năm.
Trong chương Hằng sa nói bản tế sanh tử không thể biết. Bản tế là bắt đầu, giải thoát là cuối cùng.
Đã không biết khởi đầu bản tế, vì sao lại nói chúng sanh được giải thoát rốt sau?
Chúng sanh đã được giải thoát, là có bản tế có thể biết, sao không lập bản tế?
Hiện ma ma nghiệp, quả báo ác nghiệp, Chiến-già ma-nạp, nữ nhân Tôn-đà-lợi, ôm bát không về, chướng ác nghiệp hiện, vì sao Như Lai được nhất thiết chủng trí mà không lìa các lỗi ấy?
Đây là nghi thứ sáu.
Bài kệ chương Hằng sa nói: “Quán sát các Như Lai, thảy lìa tất cả lỗi”.
Khi Phật vừa mới thành đạo thiên ma đem bốn binh chủng mang khí giới rùng rợn đến gốc cây quấy nhiễu Phật. Đây là ma nghiệp.
Bà-la-môn nữ Chiến-già dùng khúc gỗ độn bụng, với nữ ngoại đạo Tôn-đà-lợi cùng phỉ báng Phật. Phật cũng đã từng vào làng Ta-lợi-na, đi quanh các nhà khất thực không có ai cúng, phải mang bát không về. Đến như ăn lúa ngựa, đau đầu, đau lưng, giáo đâm chân, Điều-đạt xô núi đè Phật, bày chuyện voi say, cơm độc, hầm lửa, đây đều là ác nghiệp chướng hiện, không thể kể hết, đều là lỗi ác.
Vì sao nói Như Lai thảy lìa các lỗi? Vì hai bản dịch chia câu hỏi ác nghiệp ra làm hai. Nay cùng hợp làm một.
Phật bảo: Đại Huệ! Lắng nghe! Lắng nghe! Khéo suy nghĩ đó, sẽ vì ông nói.
Đại Huệ bạch Phật rằng: Lành thay Thế Tôn! Xin vâng thọ giáo.
Phật bảo: Đại Huệ! Vì vô dư Niết-bàn, vì dẫn dụ sách tấn người hành Bồ-tát hạnh.
Những người tu Bồ-tát hạnh ở đây và ở thế giới khác, ưa Niết-bàn của Thanh văn thừa, vì khiến họ lìa Thanh văn thừa tấn hướng Đại thừa, hóa Phật thọ ký cho Thanh văn, chẳng phải là pháp thân Phật.
Đại Huệ! nhân đây nên thọ ký cho Thanh văn và Bồ-tát không khác.
Đây là đáp câu hỏi thứ nhất.
Nghĩa là sở dĩ thọ ký cho Nhị thừa, có hai ý. Một, vì hàng Thanh văn tự chấp giữ Niết-bàn hữu dư, nay muốn sách phát tiến lên Đại thừa, để chứng Niết-bàn vô dư.
Hai, vì hàng Bồ-tát sơ tâm sợ hãi Đại thừa, tự sanh thối lui, ưa hạnh Thanh văn, cũng khiến bỏ tiểu hướng đại.
Có hai ý này nên vì hàng Nhị thừa thọ ký thành Phật, đây là phương tiện thi vi của hóa Phật, chẳng phải pháp thân Phật.
Nhân đây nên nói Thanh văn cùng Bồ-tát không khác. Văn sau giải thích lý do không khác.
Đại Huệ! không khác đó là Thanh văn, Duyên giác, các đức Phật Như Lai, phiền não chướng đoạn, một vị giải thoát, chẳng phải trí chướng đoạn.
Đại Huệ! trí chướng là thấy pháp vô ngã, thù thắng thanh tịnh, phiền não chướng là tập khí ban đầu kiến chấp nhân vô ngã đoạn, thất thức diệt, pháp chướng giải thoát, tập khí thức tạng diệt, rốt ráo thanh tịnh.
✅ Đây giải thích lý do Nhị thừa không khác Bồ-tát.
Nghĩa là Nhị thừa sở dĩ không khác Bồ-tát, vì Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát là quả Phật tạng giáo đồng đoạn phiền não chướng chứng nhân vô ngã, chỗ đắc chỉ là không, Niết-bàn không sai biệt, chẳng phải đoạn trí chướng chứng pháp vô ngã. Thiên Thai giáo nói: “Cùng trừ tứ trụ, chỗ này thì ngang hàng, nếu hàng phục vô minh, hàng tam thừa ắt kém”, nên nói Thanh văn, Duyên giác, chư Phật Như Lai phiền não chướng đoạn một vị giải thoát, chẳng phải trí chướng đoạn. Nếu trí chướng đoạn thì được thanh tịnh thù thắng chân thật, vì chỗ chứng của hàng Nhị thừa, kém về mặt vô lậu. Phiền não chướng là tập khí ban đầu, tập khí ban đầu là sanh nhân của ba cõi, nhuận sanh vô minh và chi mạt vô minh tức kiến hoặc tư hoặc. Hàng Nhị thừa chứng lý ngã không, đã đoạn sanh nhân trong ba cõi, không còn Phần đoạn sanh tử, nên nói tập khí ban đầu kiến chấp nhân vô ngã đoạn. Song phiền não chướng đoạn, chỉ diệt tiền lục thức, chỉ chỗ nay cùng Bồ-tát đồng, nếu thất thức diệt, ắt phần đoạn căn bản vô minh, mới được giải thoát pháp chướng. Nếu chủng tử sanh tướng vô minh trong tạng thức diệt sạch, mới được cứu cánh thanh tịnh, đây chẳng phải chỗ biết của Nhị thừa.
Do vì nhân nơi pháp bổn trụ, trước sau chẳng phải tánh, vì không tận bổn nguyện, nên Như Lai không suy nghĩ không quán xét mà diễn nói pháp, vì chỗ chánh trí giáo hóa, vì chẳng quên niệm.
Không suy nghĩ không quán xét, vì tập khí tứ trụ địa vô minh trụ địa đoạn dứt, hai phiền não đoạn, lìa hai thứ tử, biết nhân pháp vô ngã, và hai chướng đoạn.
Đây đáp về câu hỏi thứ hai.
Trước hỏi Thế Tôn từ khi mới thành Phật cho đến khi Niết-bàn khoảng giữa không nói một chữ. Phật nói rằng sở dĩ không nói đó vì ta chứng pháp bổn trụ.
Bởi, pháp bổn trụ là thật tướng các pháp, dù có Phật hay không Phật, pháp giới vẫn thường trụ, thường trụ thì không có trước sau, không trước sau thì không có tướng thành Phật và tướng Niết-bàn, nên nói trước sau chẳng phải tánh.
Mé trước mé sau dứt, vắng lặng không sanh, niệm lự hằng dứt lại còn có pháp nào để nói ư? Song ở trong chỗ không thể nói mà có nói, chỉ vì chư Phật Như Lai tu nhân trong nhiều kiếp, do huân tập bổn nguyện vô tận phát khởi cứu hộ chúng sanh, ở trong pháp giới trạm nhiên, tâm định vắng lặng, không niệm lượng xét, ứng hợp căn cơ chúng sanh mà diễn nói pháp. Tức chỗ thuyết pháp, là từ chánh trí xứng tánh lưu xuất, không có vọng niệm, không đợi suy nghĩ sau mới nói.
Như Lai sở dĩ không nghĩ không lo, vì Như Lai từ lâu đoạn tận tập khí của ngũ trụ phiền não và hai thứ phiền não căn bản chi mạt, lìa hai thứ tử, biết nhân pháp vô ngã, hai chướng phiền não và sở tri vĩnh viễn vắng bặt.
Do các chướng dứt bặt, liền được chủng loại câu sanh vô hành, tác ý sanh thân, tự nhiên mà có bất tư nghì nghiệp dụng, mà có thể hiện Ứng hóa thân hóa làm Phật sự.
Đây là sở dĩ không nói mà nói, chẳng phải thân hiện thân, gọi là chân pháp của Như Lai.
Đại Huệ! tâm ý ý thức nhãn thức... bảy thức sát-na tập khí nhân, lìa phẩm thiện vô lậu, không còn luân chuyển.
Đại Huệ! Như Lai tạng luân chuyển, nhân khổ lạc Niết-bàn, không loạn ý huệ, ngu si phàm phu không thể biết.
Đây đáp câu hỏi thứ ba.
Trước nghi ở chương sát-na nói thất thức không lưu chuyển, vì sao nói năm thức thân tâm ý ý thức chung, tướng thiện bất thiện lần lượt biến hoại tiếp nối lưu chú? Đã nói thất thức biến hoại sát-na không trụ, tức là lưu chuyển.
Chỉ có một thất thức cớ sao nói lưu chuyển, lại nói không lưu chuyển?
Nay ý Phật trả lời rằng: tâm... thất thức, sở dĩ nói lưu chú do tiền thất thức vốn không tự tánh, chỉ do Như Lai tạng bị vô minh huân mà có tập khí.
Dùng cái huân tập này làm nhân, huân khởi cái bóng vọng tưởng của tiền thất thức, niệm niệm sanh diệt, sát-na chẳng trụ, nhân đây chỉ nói thất thức sanh diệt, chẳng nói lưu chuyển.
Nói lưu chuyển là thuận pháp tánh mà lưu nhập sanh tử, chuyển sanh tử thành Niết-bàn, làm cái nhân thiện và bất thiện cho thế và xuất thế.
Do đầy đủ công năng thù thắng này, có nghiệp dụng lớn, mới gọi là lưu chuyển.
Nay tiền thất thức chỉ làm nhân hữu lậu bất thiện cho thế gian, không thể làm nhân vô lậu thiện xuất thế cho nên ta nói không lưu chuyển.
Nên nói lìa phẩm thiện vô lậu nên lại không lưu chuyển.
Cho đến nói Như Lai tạng luân chuyển vì tự tánh thanh tịnh, thể chẳng sanh diệt, chỉ vì Như Lai tạng không tự tánh, tùy duyên chuyển biến, do nhận sự huân tập thiện bất thiện hữu lậu, ắt làm nhân khổ vui sanh tử trong sáu đường nhân thiên.
Nếu nhận sự huân tập pháp thiện vô lậu thuần tịnh ắt có thể làm cái nhân vui chân thật của Niết-bàn xuất thế.
Do đầy đủ nghiệp dụng chuyển biến như thế nên nói Như Lai tạng luân chuyển, nhân khổ vui Niết-bàn, không nương cái thâm ý bí mật này thì chẳng phải hàng tam thừa hiểu cạn, ngoại đạo ngu phu có thể biết được, nên nói không loạn ý huệ, ngu si phàm phu không thể biết.
Không loạn ý huệ là người mới bắt đầu tu Đại thừa, chưa đạt chân không, không có lòng tin quyết định.
Đại Huệ! được lực sĩ kim cang theo hộ vệ là hóa Phật, chẳng phải thật là Như Lai.
Đại Huệ! Như Lai chân thật, lìa tất cả căn lượng, tất cả căn lượng phàm phu Thanh văn Duyên giác và ngoại đạo đều diệt, được hiện pháp lạc, vì trụ pháp trí nhãn vô gián, chẳng phải được lực sĩ kim cang ủng hộ.
Tất cả hóa Phật không theo nghiệp thọ sanh, hóa Phật là chẳng phải Phật chẳng lìa Phật, nhân thợ gốm, bánh xe... tướng của chúng sanh tạo mà thuyết pháp, chẳng phải chỗ tự thông nói cảnh giới tự giác.
Đây đáp câu hỏi thứ tư.
Ý hỏi đoạn trước nhân chương Hằng sa nói pháp thân Như Lai vượt qua hy vọng thế gian, bèn nghĩ rằng vì sao lại có lực sĩ kim cang thường theo hộ vệ?
Nay Phật trả lời, được lực sĩ kim cang theo hộ vệ đó, là hóa Phật, chẳng phải là Phật thật.
Như Lai chân thật lìa tất cả căn lượng, vì dẹp hết tất cả căn lượng của phàm phu, Nhị thừa, ngoại đạo, nơi hiện pháp lạc an trụ pháp trí, dùng trí nhãn chiếu soi không gián đoạn, há cần kim cang ủng hộ ư? Vả lại tất cả hóa Phật không theo nghiệp thọ sanh, chẳng phải thật có sanh diệt, vì hóa Phật chẳng phải Phật, vì chẳng phải là chân thân, mà chẳng lìa Phật, vì do chân thân hiện ra.
Tuy ứng hợp căn cơ chúng sanh mà thuyết pháp, như thợ gốm dùng bánh xe nặn đồ gốm, chỉ là việc huyễn hóa của thế gian, chẳng phải là chỗ tự thông nói về cảnh giới tự giác của chân thân Như Lai vậy.
Đại Huệ! pháp chúng sanh không thể biết bản tế, do vì chẳng biết, nên nói bản tế chẳng thể biết.
Đại Huệ! vì muốn dứt tập khí vọng tưởng lưu chú của tâm ý ý thức, nên nói giải thoát, chẳng phải là diệt pháp.
Đây đáp câu hỏi thứ năm.
Ý hỏi trước nhân chương Hằng sa nói bản tế sanh tử không thể biết, bèn nghĩ rằng giải thoát là rốt sau, nếu không có cái đầu (bản tế) làm sao có cái cuối (giải thoát)?
Nay Phật đáp rằng: Sở dĩ nói bản tế chẳng thể biết, vì pháp chúng sanh (tâm cảnh) vốn từ vô sanh. Đã là vô sanh thì làm sao có bắt đầu, vì phàm phu không biết nên mới nói bản tế chẳng thể biết.
Nghĩa là bản tế ngay nơi đương thể vốn không, chẳng phải đợi tìm cái bắt đầu mà không thể biết.
Bởi do tâm ý ý thức huân tập vọng tưởng không dứt, gọi là lưu chú sanh tử, nay chỉ cần dứt sạch tập khí lưu chú này, gọi là giải thoát, chẳng phải là diệt sạch các pháp chúng sanh rồi sau đó mới gọi là giải thoát.
Đại Huệ! vì hàng phàm phu sợ tội lỗi, vì dẫn dắt họ, hóa Phật vì họ thị hiện có các lỗi.
Nay ý Phật đáp, Bản tế đó là thật tế lý địa. Bởi trong thật tế vốn không có sanh tử, làm sao có đầu cuối. Ta nói bản tế sanh tử không thể biết, là trách hàng phàm phu ngoại đạo chỉ tùy theo vọng tưởng sanh diệt, không biết mé thật, chẳng phải nói sanh tử có bản tế mà không thể biết.
Bởi vì người ngu kia y cứ thất thức chỗ niệm niệm diệt mà khởi lên đoạn kiến, không biết thức tạng. Chỉ theo chỗ tương tục lưu chú không đoạn mà khởi lên thường kiến.
Đây đều tự sanh vọng tưởng phân biệt nên không biết bản tế, chẳng phải nói sanh tử có đầu mối, chỉ là tự vọng tưởng kia diệt bèn là giải thoát, cũng chẳng phải Niết-bàn có sau cùng.
Tập khí vô minh trụ địa, tứ trụ địa đoạn dứt, nên tất cả lỗi đoạn.
Đây đáp câu hỏi thứ sáu.
Câu hỏi trước nhân chương Hằng sa nói Như Lai thảy lìa tất cả lỗi, bèn đưa những việc ma oán ác nghiệp quả báo làm chỗ nghi.
Nay ý Phật đáp, nói Như Lai lìa tất cả lỗi ấy vì tập khí của ngũ trụ phiền não rốt ráo đoạn dứt, song lại còn gặp ma nạn, đây là định nghiệp, việc này hiển thị thân kham nhẫn, điều phục chúng sanh cang cường, cần đầy đủ vô sanh pháp nhẫn, và sức từ tâm tam-muội.
Sở dĩ có quả báo ác nghiệp, do vì chúng sanh thị hiện định nghiệp khó trốn, thành Phật cũng không khỏi, muốn khiến chúng sanh tin rõ nhân quả, vì sắp khiến cho sợ quả mà dứt nhân, lìa đường sanh tử khổ.
Đây đều là quyền trí phương tiện của hóa Phật, thị hiện cùng chịu hoạn nạn như chúng sanh, chẳng phải là Như Lai thật có nghiệp ác báo ứng đầy đủ các lỗi lầm.
Vả lại do ngũ trụ phiền não vĩnh đoạn nên nói lìa lỗi, không phải nói chẳng thọ định nghiệp là lìa lỗi.
<blockquote>
Ba thừa cũng chẳng thừa
Như Lai không diệt mất
(Đường nói: Không có Phật Niết-bàn)
Chỗ khởi tất cả Phật
Nói lìa các lỗi ác.
Vì người trí vô gián
Và vô dư Niết-bàn
Sách tấn người căn kém
Nên nói cách ẩn phú.
Chư Phật chỗ trí khởi
Tức phân biệt nói đạo
Các thừa chẳng phải thừa
Kia tức chẳng Niết-bàn
</blockquote>
✅ Đây tụng chung năm bài kệ, chỉ riêng một nghĩa thọ ký. Một bài kệ đầu, ý nói trong lý pháp giới vốn không có ba thừa, nên nói cũng chẳng phải thừa, pháp thân Như Lai cũng không nhập Niết-bàn, nên nói không diệt mất.
Song đã không có tam thừa cũng không Niết-bàn, mà nói không tất cả Thanh văn được Phật thọ ký, nhân vì nói hàng Nhị thừa có lỗi yếu kém, muốn khiến xả lìa tâm nhỏ hẹp, thú hướng đại đạo, rốt ráo được chủng trí vô gián chứng nhập vô dư Niết-bàn, dẫn dụ sách tấn những người hạ liệt, bỏ cái tưởng quen thân ấy.
Thế nên mật ý nói ẩn phú có Phật quả để thành khiến họ sanh vui vẻ, chẳng phải là thật có Niết-bàn để đợi họ chứng đắc.
Đây là phương tiện lập bày của quyền trí, nếu dùng thật trí căn bản là chỗ chứng của chư Phật, tức nương tự trí nói về đạo tự chứng chân thật, ắt là các thừa không phải thừa, bởi vì "trong mười phương cõi Phật, chỉ có một thừa pháp, không hai cũng không ba".
Thế là chỗ chứng của hàng Nhị thừa không phải là Niết-bàn chân thật, rõ ràng vậy. Nên nói Chư Phật chỗ trí khởi, tức phân biệt nói đạo...
Dục, sắc, hữu và kiếnNói là tứ trụ địaChỗ khởi của ý thứcNhà thức chỗ ý trụ. Ý và nhãn thức thảyĐoạn diệt nói vô thườngHoặc khởi Niết-bàn kiếnMà vì nói thường trụ. Đây là phiền não chướng đoạn trong phần thọ ký, chẳng phải là ý nói tứ đoạn. Nói phiền não chướng là tứ trụ phiền não. Đó là dục ái trụ địa, sắc ái trụ địa, hữu ái trụ địa, kiến nhất thiết trụ địa. Bốn phiền não này là chỗ khởi của ý thức, là chỗ trụ vững chắc của đệ thất mạt-na nội huân bát thức, dùng làm chủng tử sanh tử, nên nói nhà thức chỗ ý trụ. Do vì tiền thất thức niệm niệm sanh diệt vô thường, mà lại thấy lại đoạn, do không biết Tạng thức lưu chú, mà lại cho là thường, bèn khởi kiến chấp Niết-bàn, nên ta nói kia chẳng phải Niết-bàn. Lời nói thường trụ này là chỉ ra vọng chấp của hàng Nhị thừa.
Nên Đường dịch: "Kiến, ý thức, nhãn... vô thường nên nói đoạn, mê ý tạm khởi thường, tà trí cho là Niết-bàn".
Xem văn kệ này thì thấy văn nghĩa của bài tụng thọ ký cũng còn chưa đủ, ngoài ra ý của năm câu hỏi, cũng còn có tụng, hoặc văn kinh nói lược sơ vậy.
Trên ✅ Đây giải thích đầy đủ về các nghi để hiển bày pháp thân lìa lỗi đã xong.
Sau đặc biệt chỉ giới bổn chân tu Phật tánh để trình bày chúng sanh Phật bình đẳng.
C₈ - Đặc biệt chỉ giới bổn chân tu Phật tánh để trình bày chúng sanh Phật bình đẳng
<blockquote>
Các Bồ-tát kia thảy
Người chí cầu Phật đạo
Rượu thịt và tỏi nén
Ăn uống là thế nào?
Cúi xin Vô thượng tôn
Thương xót vì diễn nói
Chỗ người ngu tham trước
Xú uế không danh xưng.
Thú cọp sói thích ăn
Làm sao có thể ăn?
Ăn đó sanh các lỗi
Không ăn là phước lành.
Cúi xin vì con nói
Tội phước ăn, không ăn
</blockquote>
Bồ-tát Đại Huệ nói kệ xong rồi lại bạch Phật rằng: Cúi xin Thế Tôn vì chúng con nói công đức và lỗi lầm của ăn và không ăn thịt. Con và các Bồ-tát ở đời hiện tại vị lai, sẽ vì những chúng sanh ưa thích ăn thịt mà phân biệt thuyết pháp khiến chúng sanh kia cùng hướng lòng từ, được từ tâm rồi, mỗi mỗi biết rõ trụ địa thanh tịnh (Đường dịch: Vì chúng sanh ở đời hiện tại vị lai không huân tập ăn thịt mà diễn nói, khiến bỏ được mùi vị thịt, tìm cầu pháp vị, khởi tâm đại bi với tất cả chúng sanh, lại thương yêu chúng sanh xem như con một, trụ địa vị Bồ-tát).
Chóng được vô thượng Bồ-đề rốt ráo, ngừng dứt địa vị Thanh văn Duyên giác rồi, cũng được chóng thành vô thượng Bồ-đề.
Đây là nhân ở trước Thế Tôn một phen khai thị lý hạnh nhân quả rốt ráo đã tột cùng, mà Đại Huệ đến đây đặc biệt thưa thỉnh về vấn đề ăn thịt, sắp sửa chỉ dạy cho hành giả tu như thật phải dùng tánh giới làm gốc.
Như kinh Lăng Nghiêm, phần tiến tu năm mươi lăm vị, ban đầu dùng ba loại tiệm thứ nêu lên trước. Than ôi! Chúng sanh sở dĩ thường ngủ mê trong sanh tử, chỉ vì bốn tội nặng căn bản là sát, đạo, dâm, vọng trói buộc khiến không thể ra khỏi.
Lăng Nghiêm đầu tiên đoạn dâm dục, kinh này chuyên đoạn dứt sát sanh, đều là trọng yếu của chân tu. Nhưng kinh này truyền sang chưa đủ, không thể thấy hết gương mẫu thanh tịnh của Như Lai.
Hoặc cho rằng, các kinh đề xướng ban đầu là đoạn sát, Lăng Nghiêm riêng nói đoạn dâm, bảo là chân tu lấy đoạn dâm làm gốc, lợi sanh dùng đoạn sát làm đầu, vì sao ✅ Đây nói chấm dứt ăn thịt là chân tu?
Tôi nói không hẳn vậy. Như Lai thuyết pháp tùy theo nguyên nhân của mỗi pháp hội, không cố chấp một lời nào.
Lăng Nghiêm nhân A-nan bị nạn nên dạy bảo đoạn dâm, ở kinh này nhân ở cung vua Dạ Xoa nên dạy lời đoạn sát, mỗi nơi đều tùy theo tánh huân tập nghiêng nặng mà dứt, chính là đau đâu lẻ đó.
Bởi do chúng sanh đắm trước ngũ dục, trầm luân sanh tử. Ngũ dục là tài sắc danh thực thùy, há có riêng sắc dục khiến người sanh tử, mà thực dục lại không đưa vào sanh tử ư? Trong ba tương tục của Lăng Nghiêm, dùng ba loại tham làm gốc, đó là tham dâm, tham sát, tham đạo.
Kia nêu tham dâm ra trước, mà ở đây chú trọng tham sát tham đạo. Bởi vì chúng sanh mạt thế, mê nơi chân tánh, mờ nơi đồng thể, ăn nuốt lẫn nhau, cùng giết hại nhau quá hơn La Sát. Thế nên Như Lai đại bi, đặc biệt nhân vua quỷ Dạ Xoa mà khai phát chỗ này.
Kinh kia (Lăng Nghiêm) đầu tiên nêu chánh tánh, kinh này trước trừ trợ nhân, trái hiện nghiệp, cùng là cần thiết cả. Song hiềm vì chưa được thấy chỗ luận bàn cùng tột, dẫn văn kinh phần trước nói Tất cả chúng sanh đều nhiếp thọ dục thực, không thể nhiếp thọ pháp thực, đây nói, Muốn khiến chúng sanh lìa bỏ vị thịt mà cầu vị pháp, đối với tất cả chúng sanh dùng lòng từ hướng đến, xem như con một.
Nếu không thấm sâu được pháp vị, ngộ tánh bình đẳng, cớ gì do không ăn thịt lại có thể trụ địa vị Bồ-tát, chóng chứng vô thượng Bồ-đề? Đây là chỉ dạy chân tu tánh giới, nhân quỷ vương mà phát khởi, không có gì để nghi. Hơn nữa nói rằng Thanh văn trụ Niết-bàn của mình, cũng nhân không ăn thịt mà có thể chóng được vô thượng Bồ-đề, há chẳng do tham Niết-bàn vị, chấp giữ lòng tham làm tổn hại pháp thân, trái với tự tánh bình đẳng đó sao? Nhị thừa nếu có thể xả dục vị này, ắt một niệm chóng chứng vô thượng Bồ-đề, thành Phật nhanh chóng không gì mau hơn đây. Chỗ tôi gọi là tánh giới này, thỉnh bậc trí xem kỹ.
Pháp luận tà ác (Đường dịch: Lộ-già-da..., Trung Hoa dịch là Thuận thế, hay là Bổ luận). Các phái ngoại đạo chấp trước tà kiến điên đảo đoạn thường còn có pháp ngăn không cho ăn thịt, huống là Như Lai cứu hộ thế gian thành tựu chánh pháp mà ăn thịt ư?
✅ Đây nói ngoại đạo tà kiến còn có sự cấm ngăn không cho ăn thịt, hà huống Như Lai là bậc đại bi dưỡng dục hàm linh, là chỗ nương tựa của thế gian, mà cho phép tự mình hay người khác ăn thịt ư? Biết rõ chỗ này ắt cần cấm chế đoạn dứt.
Phật bảo Đại Huệ: Lành thay! Lành thay! Lắng nghe, lắng nghe, khéo suy nghĩ đó, ta sẽ vì ông nói.
Đại Huệ bạch Phật: Xin vâng thọ giáo.
Phật bảo Đại Huệ: Có vô lượng nhân duyên không nên ăn thịt, nhưng nay ta sẽ vì ông nói sơ lược. Nghĩa là tất cả chúng sanh theo bản tâm mà đến, nhân duyên lần lượt thường làm lục thân quyến thuộc. Do tưởng thân quyến nên không nên ăn thịt (Đường dịch: Tất cả chúng sanh từ vô thỉ đến đây, luân hồi trong sanh tử không ngừng, đã từng làm cha mẹ anh em quyến thuộc nam nữ, cho đến là bằng hữu thân ái, người hầu cận sai khiến, vì khác đời mà thọ thân chim chóc, cầm thú... tại sao lại bắt chúng mà ăn?). Vì những loại thịt lừa, lạc đà, la, chồn, chó, trâu, ngựa, người, thú... đồ tể bán lẫn lộn nên không nên ăn hịt. Vì tăng trưởng khí tanh nhơ nên không nên ăn thịt. Vì chúng sanh nghe mùi đều sanh sợ hãi, như Chiên-đà-la (Đường dịch là Đồ tể) và Đàm-bà (Trung Hoa dịch là Người ăn thịt chó, hoặc Thợ săn).
Vì loài chó thấy rất ghét, kinh sợ đua nhau sủa, nên không nên ăn thịt. Lại vì khiến người tu không sanh tâm từ, nên không nên ăn thịt. Vì là chỗ phàm ngu ghiền ăn, hơi hám bất tịnh, không có danh xưng tốt, nên không nên ăn thịt. Vì khiến chú thuật không thành tựu, nên không nên ăn thịt. Vì người sát sanh thấy hình chúng sanh liền khởi tâm, đắm trước vị thịt, nên không nên ăn thịt. Người ăn thịt bị chư thiên chê xa lánh, nên không nên ăn thịt. Vì khiến hơi miệng hôi, nên không nên ăn thịt. Vì nhiều ác mộng, nên không nên ăn thịt. Vì ở trong rừng đồng vắng, loài cọp sói nghe mùi, nên không nên ăn thịt. Vì khiến người ăn uống vô độ, nên không nên ăn thịt. Vì khiến người tu không sanh nhàm lìa, nên không nên ăn thịt.
Ta thường nói rằng: Phàm khi ăn uống vì tưởng như ăn thịt con, tưởng như uống thuốc, nên không nên ăn thịt. Cho phép ăn thịt là điều không đúng.
Đây là những lời nói thậm tệ về lỗi ăn thịt.
Thật ra có vô lượng nhân duyên không nên ăn thịt, nay nói lược chỉ như thế. Trước tiên nói tất cả chúng sanh ở trong sanh tử đã từng làm cha mẹ anh em lục thân quyến thuộc bằng hữu tri thức, đây chính là pháp tánh bình đẳng, từ bi đồng thể. Dùng người thân mà quán chúng sanh, ắt không thứ thịt nào có thể ăn.
Dùng Phật tánh mà quán chúng sanh, ắt không có vật nào để chấp thủ. Không có vật để chấp thủ thì chúng sanh tướng không; không thứ thịt nào có thể ăn thì tự tánh thanh tịnh. Tướng không, tánh tịnh, đây là lý do tánh giới thành tựu, một niệm liền lên Phật địa. Lợi ích của không ăn thịt, đã có thể xa chứng Bồ-đề, còn tai hại của ăn thịt thì ngay đó đoạn dứt huệ mạng Phật, hằng tổn thiện căn. Do đây mà xem, như trên nói sơ lược về lỗi, còn đưa ra lời nói dễ tin nhận, là để ngăn sự kinh sợ của chúng sanh vậy.
Lại nữa, Đại Huệ! Đời quá khứ có một vị vua tên Sư Tử Tô-đà-sa, ăn các thứ thịt cho đến ăn thịt người, thần dân không chịu nổi bèn mưu phản, dứt hết bổng lộc vua. Do ăn thịt có lỗi như thế, nên không nên ăn thịt.
Đây là nói nặng về chỗ mê muội đồng thể, cho đến ăn thịt người, trái ngược chân tánh, nên phải chịu sự phản nghịch. Thuận nghịch do ta, theo đó mà có chống trái hay ứng hợp. Trong hai bản dịch có nói nhiều nhân duyên, cần hợp lại để xem.
Lại nữa, Đại Huệ! Phàm những người sát sanh vì tài lợi nên sát sanh bán thịt, chúng sanh ngu si thích ăn thịt, dùng tiền làm lưới để thâu tóm các thứ thịt (Ngụy dịch: Thế nên người mua và người giết không khác).
Người sát sanh hoặc dùng tài vật, hoặc dùng lưới câu, bắt các chúng sanh ở trên không, dưới nước, trên bờ, các thứ giết hại, người đồ tể buôn bán cầu lợi.
Đại Huệ! Cũng không thể có chuyện không bảo, không cầu, không tưởng mà có cá thịt. Do nghĩa này nên không nên ăn thịt.
✅ Đây nói nhân ăn thịt mà giúp cho nghiệp sát.
Người sát sanh vì lợi mà giết, người ăn thịt dùng tiền làm lưới, thế nên người ăn thịt nhiều thì người sát sanh cũng nhiều. Người sát sanh ngày càng tăng mà người ăn thịt nghiệp càng nặng. Vì vậy bán thịt và sát sanh tội như nhau. Tóm lại đều vì vọng tưởng tham cầu. Người sát sanh vì cầu lợi mà tưởng càng tăng, người ăn thịt vì tìm vị thịt mà tưởng càng mạnh, thế nên người sát sanh người ăn cùng xúi bảo nhau, cùng giúp cho việc ác đồng hành. Nên nói cũng không có không bảo, không cầu, không tưởng mà có cá thịt. Đây là ý do nghiệp ăn và nghiệp sát ngang bằng. Ngụy dịch: Ta xem thế gian không có thịt nào mà chẳng có mạng sống, nên ta nói tội của ăn thịt, đoạn dứt hạt giống Phật.
Đại Huệ! Có khi ta nói ngăn năm loại thịt, hoặc cấm chế mười thứ. Nay ở kinh này tất cả loại, tất cả thời, phương tiện khai trừ, tất cả đều chấm dứt.
✅ Đây nói về ý khai quyền hiển thật.
Phật dạy rằng: Ta ở trong các kinh khác, cũng từng cho phép ăn năm thứ tịnh nhục. Cấm giết mười loài sinh vật mà thôi. Nay thì tất cả đều chấm dứt, tất cả sanh mạng hoàn toàn không cho ăn. Vì sao? Vì ngày xưa căn cơ chưa thuần thục, chưa nêu nghĩa Phật tánh, tạm dùng phương tiện ngăn cấm để chuẩn bị thành tựu, vì muốn đợi thời. Nay thì chí nguyện của chúng thuần lương, thời nói pháp đã đến, nếu không chóng đoạn dứt ăn thịt, để hiển thị chủng tử Phật tánh, khiến họ thành tựu chỗ thật, ắt là ta dùng pháp Tiểu thừa độ người, tự rơi vào chỗ keo kiệt pháp. Việc này nhất định không được. Nên ta ở hội Lăng Già này, tất cả đều chấm dứt, không cho phép ăn thịt.
Năm thứ tịnh nhục là: Không thấy, không nghe, không nghi, chim ăn còn dư, tự chết.
Mười thứ thịt không cho ăn là: Người, rắn, voi, ngựa, rồng, chồn, chó, heo, sư tử, khỉ.
Đại Huệ! Như Lai Ứng cúng Đẳng chánh giác còn không ăn, huống ăn cá thịt, cũng không dạy người. Dùng đại bi làm hạnh trước tiên, nên xem tất cả chúng sanh như con một (Đường dịch: Thanh văn, Duyên giác và các Bồ-tát còn chỉ có pháp thật, huống là Như Lai. Đại Huệ! pháp thân Như Lai chẳng phải thân tạp thực. Đại Huệ! ta đã tẩy trừ tất cả tập khí, ta đã khéo chọn các tâm trí tuệ, đại bi bình đẳng, xem khắp chúng sanh như con một, vì sao mà cho phép đệ tử Thanh văn ăn thịt, huống gì tự ăn). Cho nên không cho phép ăn thịt con.
Đây là Thế Tôn nói rộng lỗi ăn thịt, dùng đồng thể đại bi để tóm kết chỗ chỉ dạy.
Pháp thân Như Lai chẳng phải thân tạp thực, dùng pháp hỷ làm thức ăn, đây chính là muốn hành giả xa lìa thức ăn tham dục mà nhiếp thọ pháp thực. Sở dĩ tha thiết ngăn người tu hành chớ ăn huyết nhục chúng sanh, vì Như Lai xem tất cả chúng sanh như con một, mà con với cha mẹ khí phần đồng nhất.
Bởi do pháp thân lưu chuyển trong năm đường, gọi là chúng sanh, mà tất cả chúng sanh đều dùng pháp thân Như Lai làm thể, nên dùng đồng thể mà xem thì cũng như con một, không có chúng sanh.
Nếu ăn thịt chúng, há chẳng phải là người giết hại pháp thân, đoạn dứt huệ mạng ư?
Không ăn thịt thì tự tánh không giảm tổn, pháp thân thường trụ.
Việc cốt yếu thành Phật không gì mau hơn việc này.
Văn xuôi của chương Không ăn thịt, cả hai bản dịch rất nhiều, chánh văn của bản này so với bản Ngụy chỉ là một phần mười, so với bản Đường chỉ là ba phần mười.
Xem văn xuôi tuy sơ lược, nhưng văn kệ rất rõ ràng.
Sơ lược và rõ ràng cùng hỗ trợ nhau, bởi tài khéo hiểu nghĩa của người dịch, không phải lời của Như Lai có sơ suất.
Người xem đối với toàn bộ ba bản dịch, cần lấy nghĩa để hội vậy.
Bấy giờ Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa này mà nói kệ:
Đều từng làm quyến thuộc Thô nhơ lẫn bất tịnh Do bất tịnh sanh trưởng Nghe mùi đều sợ hãi
Đây là tụng khí phần bất tịnh đồng đẳng. Chính là văn xuôi rõ ràng, văn kệ sơ lược.
Tất cả thực cùng hành Và các thứ tỏi nén Các rượu buông lung Tu hành thường xa lìa. Cũng thường lìa dầu mè Và các giường thủng lỗ Do các trùng nhỏ kia Trong ấy rất kinh sợ
Đây là văn xuôi đơn giản mà văn kệ rõ ràng. Hành hẹ tỏi nén là ăn sống sanh sân, ăn chín sanh
[328]
Hôi nhơ rất đáng ghét Chỗ sanh thường ngu si. Thường làm Chiên-đà-la Dòng thợ săn Đàm-bà Hoặc sanh Đà-di-ni Và các dòng ăn thịt. (Ngụy dịch: La Sát Nữ) La Sát, mèo chồn thảy Sanh trong những nơi ấy
✅ Đây nói ưa ăn thứ tanh hôi, chắc chắn đọa vào loại đó.
Tính chất như vậy. Phược tượng cùng đại vân Ương-quật-lợi Ma-la. Phược tượng, Ngụy dịch: Tượng dịch, Đường dịch: Tượng hiệp. Ương-quật-lợi Ma-la, Đường dịch: Ương-quật-ma. Đều là tên kinh.
Và kinh Lăng Già này Ta đều cấm ăn thịt Chư Phật và Bồ-tát Thanh văn chỗ quở trách. Ăn rồi không hổ thẹn Đời đời thường si mù Trước nói thấy, nghe, nghi Nay dứt tất cả thịt. Vọng tưởng chẳng giác tri Nên sanh chỗ ăn thịt
✅ Đây nói Như Lai vốn không từng cho phép ăn tịnh nhục
Phật bảo rằng: Trước ta nói thấy giết, nghe giết, nghi giết, không cho phép ăn, mật ý đã là chấm dứt tất cả loại thịt, đều không phép ăn. Vì tất cả loại thịt đều không ra ngoài ba thứ giết hại này. Nói rằng không thấy, không nghe, không nghi giết, trừ ba việc này ắt không có thịt có thể ăn. Nhưng chúng sanh vọng tưởng vô tri, cho rằng Như Lai cho phép những thứ không thấy giết... là tịnh nhục, rồi sanh vọng tưởng có thể cho ăn.
Đây là rất ngu vậy.
[330]
Ăn thịt không từ huệ nghĩa là vì thương tổn đồng thể không có chánh tri kiến. Hằng trái chánh giải thoát nghĩa là vì không tùy thuận pháp tánh, đi đường tà hiểm vào trong sanh tử. Trái biểu tướng thánh nghĩa là vì thiếu oai nghi hộ sanh không thể giáo hóa lợi sanh. Có nhiều lỗi như vậy nên người tu hành không nên ăn thịt
.Được sanh dòng Phạm chíVà các chỗ tu hànhNhà phú quý trí tuệĐây do không ăn thịt.
Đây kết về lợi ích không ăn thịt.
Phàm báo ứng thiện ác có ba loại: Hiện báo, sanh báo, hậu báo. Như trong chánh văn nói thân miệng hôi nhơ, vật thấy kinh sợ và quần thần phản nghịch… đều là hiện báo. Như trong văn kệ trước nói đọa địa ngục kêu gào và loài cọp sói hôi hám, mèo chồn La Sát, nhà đồ tể… trong chủng loại ác, đều là sanh báo, hậu báo. Nay kệ nói: Không ăn thịt được sanh dòng Phạm chí, các chỗ tu hành nhà phú quý trí tuệ, đây là sanh báo huệ báo của nghiệp thiện. Theo chỗ này mà nghiệm thì có thể biết hiện báo. Do xa lìa uế ác sanh dòng Phạm chí. Do hay thuận pháp giới tánh nên sanh chỗ tu hành, đó là không lìa đạo tràng. Do xả bỏ ngu si nên sanh vào nhà trí tuệ. Do chấm dứt tham cầu kham làm Phật tử nên sanh vào nhà phú quý. Vì Như Lai là bậc giàu có làm chủ pháp giới, tôn quý là bậc Thế Tôn.
Chỉ người thông đạt pháp tánh bình đẳng không ưa ăn thịt, mới hay nối thạnh gia nghiệp, người nào khác làm sao sánh cùng.
Than ôi! Tất cả chúng sanh đồng mê pháp tánh mà thọ thân tâm năm uẩn huyễn vọng này.
Nhìn tướng tuy khác, quán tánh thật đồng, mờ tối nên mê chỗ đồng mà chợt sanh khác loài, kia đây tự tâm sanh cừu thù, phóng túng giết hại để vui tích cho mình, há chẳng lầm lẫn ư!
Đây chính là “Tự tâm chấp tự tâm, chẳng huyễn thành pháp huyễn”.
Nếu hay liễu đạt tự tâm hiện lượng, ắt vật ngã cùng quên, người pháp đều mất, nhất thể phẳng lặng rỗng rang dứt bặt. Chẳng phải chẳng do quên tình chấp trước mà làm thềm bậc thành Phật ư? Đây sở dĩ là hạnh chân tu, lấy đoạn nhục làm lời dạy thanh tịnh bậc nhất. Song xét về tứ trọng, việc này tuy chỉ nằm trong một phần, bậc trí cũng cần nhìn sâu để suy xét kỹ vấn đề; có thể thấy nó chiếm hơn phân nửa tội trọng.
Kinh Lăng Già này đại bộ có bốn chục quyển, 151 phẩm, truyền sang Trung Hoa chỉ có bốn quyển, một phẩm duy nhất, vì kinh truyền sang chưa hết nên thiếu phần Lưu thông. Nay trong trăm lẻ tám câu hỏi, chỗ hỏi riêng đáp riêng về năm pháp ba tự tánh tám thức hai vô ngã, trình bày tổng quát hay riêng biệt về cấp độ mê ngộ nhân quả tà chánh, sự sai biệt của căn tánh, tu chứng trước sau, ý nghĩa đã rõ ràng đầy đủ trong mỗi câu vấn đáp, chỗ đáp chưa rõ hết chỉ là sai biệt danh tướng của sự vật.
Từ câu “Ai sanh các tánh báu” trở xuống, đến như sai biệt của vạn tượng người vật trong trời đất, khác nhau của lòng tham yêu thích, và những điều Phật bổ túc cho
Câu hỏi của Đại Huệ - số lượng tính đếm, hình trạng trong Hoa Tạng thế giới bất đồng… đều chứng minh đầy đủ như các phẩm trong kinh Hoa Nghiêm: Hoa Tạng Thế Giới, Thế Giới Thành Tựu, A Tăng Kỳ Thọ Lượng.
Ắt là chỗ văn kinh chưa truyền đến phương này, chỉ đặc biệt về danh tướng thôi. Người xưa cho rằng sở dĩ không truyền sang, vì chỗ chú trọng nơi pháp môn duy tâm duy thức, muốn đốn ngộ nhất tâm, tức ngoài chỗ này lại không có pháp khác. Cho đến phần chưa truyền sang hết cho dù cùng tận số lượng pháp giới, chẳng qua cũng là ảnh hiện của nhất tâm. Tổ sư Đạt-ma chỉ kinh này làm tâm ấn, há ngoài đây lại có pháp dư? Người đọc nên biết vậy.
Kệ viết:
Kính lễ biển tịch diệt Thân trang nghiêm diệu sắc. Pháp tổng trì viên mãn Hằng lìa tướng văn tự. Chúng hòa hợp tùy duyên Tăng tự tánh thanh tịnh. Mong dùng đồng thể từ Thương xót nhiếp thọ con. Dùng được tâm tư duy Vào tạng thậm thâm này. Nơi một đầu lông xíu Hiện cảnh giới tự giác Khiến mọi chỗ thấy nghe Đốn ngộ pháp tánh không. Tất cả duyên huyễn hóa Thấu rõ duy tâm hiện Nguyện lượng pháp giới diệt Đồng nhập bình đẳng quán. Hiện khắp tất cả thời Trong tất cả bụi trần Phàm tại thân hữu tình Cùng về cõi Cực lạc
Quán Lăng-già A-bạt-đa-la Bảo Kinh Ký - Quyển 8 hết.
🛑🛑🛑
NGUỒN
GHI CHÚ
Chú thích:
Footnotes
-
Nghĩa là không cần diệt các pháp, chỉ cần lìa vọng tưởng. ↩