TỰA
Hôm nọ, lúc tôi chuẩn bị viết bài tựa cho cuốn sách này, có một vị tăng đến thăm, và hỏi rằng: Người xuất gia cần phải làm những việc gì?
Tôi tình thật trả lời: Cầu đạo, làm đạo.
Vị ấy lại hỏi: Cầu đạo, việc căn bản nhất phải làm là gì?
Tôi nói: Là tu bồi đạo đức, giới hạnh.
Vị tăng ấy liền nói: Ôi, thầy thật là cố chấp! Người thượng căn lợi khí thì nhờ trí huệ mà vào đạo, kẻ hạ căn độn khí thì chỉ có tu phước mà thôi. Cho nên, người xuất gia cần nhất là phải cầu cho được trí huệ, có trí huệ thì tự nhiên đầy đủ tất cả, cần gì phải tu bồi đạo đức, tu tập giới hạnh?
Tôi nghe vậy, lòng vô cùng ái ngại, nhưng vẫn nhỏ nhẹ thật tình: Người xưa từng nói, đạo đức là gốc căn bản làm người. Lại nói, ở đời người muốn lập chí lớn, làm việc lớn, trước hết phải tự lượng khí chất và năng lực của mình, huống chi pháp của Phật, bậc Chánh đẳng giác, cao thâm vi diệu, lẽ nào người thường có thể tùy tiện tiếp nhận, lãnh ngộ được sao?
Cũng giống như người có sữa của sư tử, thứ ấy là quý, mà không biết dùng bình lọ quý báu như lưu ly để cất giữ, lại đem bỏ trong mảnh sành, bình đất thì không phải là phí phạm, để cho hư nát hay sao? Lại giống như một người lực sĩ, khiêng chiếc đỉnh nặng ngàn cân, leo lên chiếc thuyền lá bé nhỏ, thì làm sao tránh khỏi cái nạn lật thuyền mà chết?
Ngày nay, người xuất gia có chút ít tri thức, thì đã vội vàng tập tành học cách chú giải, khảo cứu, biên chép… chẳng khác nào những thư sinh nhà Nho chuyên làm con mọt sách. Người có tri thức trình độ hơn chút nữa, thì tầm chương trích cú những lời dạy của cổ nhân, vay mượn một cách máy móc, biên chép lại thành sách rồi cho là của mình; nắm bắt những thứ cặn bả, vụn vặt như ngói gạch phế thải… của chư vị Tổ sư đã bỏ đi, vậy mà cứ cho là của mình sáng tác; thật đúng là làm trò thả hình bắt bóng, chẳng được gì cả, ngược lại còn làm trò cười cho kẻ trí! Những hạng người này, giảng kinh thuyết pháp nghe hùng hồn lắm, mỗi chữ mỗi câu đều phảng phất như lời chư Phật, chư Tổ, rất cao minh, nhưng khảo sát lại hành vi của họ thì chẳng khác nào những kẻ phàm phu tục tử. Thời kỳ mạt pháp, những hạng người bại hoại như vậy thật nhiều lắm!
Tôi rất lo lắng, sợ những người xuất gia rơi vào những tình cảnh nông nỗi như vừa nói trên, cho nên mới sưu tập, ghi chép lại những thiện hạnh của người xưa, trích lấy phần trọng yếu, phân thành mười loại. Mười loại ấy là gì?
Từ bỏ mọi sự nhiễm ô của thế tục, gọi là xuất gia. Xuất gia, điều đầu tiên phải nói đến là sự thanh cao và giản dị, cho nên, thiện hạnh thứ nhất mà người tu phải noi theo học tập là Thanh tố. Nhưng thanh cao mà không nghiêm chính thì chỉ là cái thói làm cao của kẻ cuồng sĩ. Người học Phật nhất định phải thâu nhiếp ba nghiệp thân, khẩu, ý cho thanh tịnh thì mới có cơ hội thành tựu đạo nghiệp, cho nên điều thiện hạnh thứ hai phải học là Nghiêm chính. Hành vi nghiêm chính cần phải nương nhờ thầy chỉ dạy, mới tránh khỏi sai lầm. Người thầy là bậc mô phạm, nuôi dạy ta thành người, cho nên điều thiện hạnh thứ ba là phải Tôn sư. Có cha mẹ sanh ta, nuôi ta lớn khôn, sau mới có thể tiếp nhận sự giáo dục của thầy, quên mất công ơn cha mẹ là bất hiếu, vong bản. Vả lại, giới hạnh luật nghi tuy rất nhiều, nhưng điều quan trọng nhất vẫn là hiếu hạnh, cho nên, thiện hạnh thứ tư là Hiếu thân. Kẻ trung thần xuất thân từ người con hiếu. Đạo lý trung hiếu phải vẹn toàn, chỉ biết có tình thân, không biết có ân quân chủ, quốc gia thì đó là hành vi của người tự tư tự lợi. Trong sách có ghi: “một người có phước, vạn dân đều nhờ”, là ý nói khi có một bậc quân chủ đức độ nhiếp chính thì quốc thới dân an, chúng ta nhờ vậy mà có thể được xuất gia, tự do đi lại khắp núi rừng sông suối để ẩn cư tu tập. Ân quốc gia cũng thật lớn thay! Cho nên, điều thiện hạnh thứ năm là phải trung thành với đất nước, Trung quân. Nhưng nếu chỉ biết đến đạo lý trung quân, tức là chỉ giao tiếp qua lại với các cấp chính quyền lãnh đạo, mà không quan tâm đến nhân dân, những người tín chủ đã ủng hộ mình tu tập thì cũng không tròn đạo lý. Nên cần phải nghĩ nhớ đến những người chân lấm tay bùn, nghèo khổ bần cùng, đó là điều thiện hạnh thứ sáu, Từ vật. Từ và ái rất gần gũi. Người xuất gia mà sinh lòng ái nhiễm là một điều chướng ngại lớn cho việc tu hành, vì vậy, điều thiện hạnh thứ bảy là phải sống cho Cao thượng. Nhưng cao thượng không có nghĩa là cô phương tự phụ. Người xuất gia giữ khoảng cách với mọi người là để yên thân tu tập, một mặt là để trau dồi bản thân, hoàn thành xứ mạng tự độ của mình, sau đó, khi công phu tu tập đã cao thâm rồi thì tự nhiên đạo hạnh sáng rỡ muôn phương, khi ấy là lúc trở lại hóa độ chúng sanh. Đó là điều thiện hạnh thứ tám, Trì trọng. Trì trọng là cẩn thận mà ẩn cư, tìm chốn thanh nhàn vô sự như thế chẳng qua cũng là bất đắc dĩ, vì đạo hạnh chưa thâm, cho nên phải chịu Gian khổ, đó là điều thiện hạnh thứ chín. Tuy nhiên, cũng có người sợ sự gian khổ ở ngoài đời mà tìm đến núi rừng, chùa viện để ẩn cư, trốn tránh việc đời, trở nên những kẻ vô công, ăn nhờ cửa Phật, đó không phải là hành vi gian khổ mà là mượn đạo tạo đời, đạo tâm đã thui chột. Một khi đạo tâm đã thối lui rồi thì không việc ác nào lại không dám làm. Kỳ thật, đạo lý nhân quả báo ứng không chừa một ai, dù nhỏ như sợi lông hạt bụi vẫn chưa bao giờ sai khác. Cho nên, người xuất gia không thể không nghĩ đến nhân quả báo ứng, đó điều thiện hạnh thứ mười, Cảm ứng, tức là phải luôn luôn ghi nhớ luật nhân quả.
Mười điều thiện hạnh trên đây nếu tu tập đầy đủ thì đạo hạnh mới hoàn thiện, mới trở thành nhân tài có thể kham nhận Phật pháp. Cũng giống như đất đai đã được cải thiện phì nhiêu, mầu mở rồi sau đó mới có thể trồng cây, gieo hạt được tốt tươi. Đất tâm cũng vậy, một khi đã được tinh thuần rồi thì đạo lý mới có thể tin hiểu, thọ trì; đạo lớn bồ đề chí cao vô thượng mới có thể kỳ vọng thành tựu. Nếu không như lời trên đây để tu hành thì chỉ là một phường phàm phu bỉ lậu mà thôi!
Đạo lý làm người mà không làm được, thì làm sao học làm Phật? Dù thầy là người thượng căn lợi khí, rất mực tài trí thông minh đi nữa, cũng chỉ có hại mà thôi. Trí lực càng cao, chướng ngại càng lớn, tu hành càng khó thành tựu. Người không có đạo hạnh như vậy làm sao có thể làm người xuất gia tu hành?
Khi tôi nói xong mấy lời trên đây thì vị tăng ấy lại nói: Diệu pháp tu tập của tôi là một hạt bụi không lập, xưa nay không một vật, bụi bặm báo vào đâu? Mười thiện hạnh của ngài đem dùng vào chỗ nào?
Tôi trả lời: Rõ ràng là năm uẩn sắc, thọ, tưởng, hành, thức đang thiêu đốt mạnh mẽ, rối loạn khắp nơi; bốn đại địa, thủy, hỏa, phong đang gây phiền phức khắp chốn, sao lại nói không có vật gì?
Vị tăng ấy cãi: Bốn đại vốn không có tướng, năm uẩn vốn chẳng có thật.
Tôi nghe vậy liền bước đến trước thầy ấy đánh cho một tát, nói: Hiện nay, kẻ học đòi lời lẽ của người xưa để biểu thị kiến giải của mình rất nhiều. Thầy đáp chưa trúng vào đâu cả, hãy thử dùng kiến giải của chính bản thân thầy đáp lại tôi xem.
Vị tăng ấy không đáp được, giận dữ bỏ đi. Khi ấy tôi cười mà nói: Bây giờ trên mặt thầy đầy vẻ giận dữ, đó chính là bụi bẩn của bốn đại và năm uẩn đấy, sao thầy không lau đi!
Người xuất gia cần phải chú ý! Lên cao phải tự biết mình bé nhỏ, chớ nên tự đại, đừng vọng nói Bát nhã, lạm giải Tánh không mà tự chuốc lấy tai ương. Và, ngàn vạn lần xin khuyên người xuất gia đừng vì một chút danh lợi bèo bọt, hư vinh mà tham đắm. Hãy tu dưỡng phẩm hạnh đạo đức của mình, đem hết tâm lực tinh thần mà tu tập, quyết một phen sống chết, lâu ngày tự nhiên tâm được bừng mở, cửa ngỏ giác ngộ bước đến nơi, sau đó mới có được sự thể hội chân chính, không bỏ vạn hạnh cũng chẳng nhiễm trần; suốt ngày không chấp không mà cũng chẳng chấp có, đó chính là đạo lý đệ nhất nghĩa đế: chân không diệu hữu. Đây mới là trí tuệ chân thật của nhà Phật. Xin những người xuất gia hãy một lần để tâm tham cứu.
Tôi rất lấy làm hỗ thẹn vì đạo lớn vẫn còn chưa thể hội, thêm nữa đức hạnh mỏng manh, viết cuốn sách này, mục đích chủ yếu là muốn cứu vãn những căn bệnh của người xuất gia ngày nay, để báo đáp ân đức của chư Phật mà thôi. Người có trí thấu tình đạt lý, nếu không vì chỗ nông cạn của tôi mà bỏ qua những sơ xuất, hy vọng còn lưu thông cuốn sách này để cho mọi người tu thiền tham cứu thì thật là quý báu biết bao!
Niên hiệu Vạn Lịch thứ 13 - Hàng châu, ngày trọng Đông - Sa môn Châu Hoằng
Chương 1 THANH CAO VÀ GIẢN DỊ
1.1. Không mở trai đàn
Vào thời Nam Bắc triều (420-589), đời nhà Tống (giòng họ Lưu), vua Vũ đế Lưu Dụ, hiệu Sở Sang, có một người xuất gia hiệu là Mân.
Sư Mân xuất gia hồi mới 7 tuổi. Lớn lên bác thông kinh điển, tiếng đồn khắp nước, dân chúng thường gọi ngài là Mân pháp sư.
Mân pháp sư ưa kiến tạo, tu sửa chùa chiền, in kinh, đúc tượng, phóng sanh, bố thí… không một việc thiện nào, vì nhỏ, mà không làm, dù cho gian khổ, khó khăn, ngài cũng không ngại.
Có người hỏi sư: Công đức tu tập của Hòa thượng tính ra không phải nhỏ, nhưng đáng tiếc là chưa từng nghe ngài mở đại hội trai đàn chẩn tế, e rằng công đức ấy vẫn chưa được viên mãn?
Mân pháp sư trả lời: Đại hội trai đàn chẩn tế rất khó thực hiện đúng như chánh pháp. Vả lại, nhu cầu các thứ phẩm vật như gạo, rau, muối, giấm, củi, nước lạnh, nước sôi… nói chung là vật dụng để phục vụ trai đàn tốn kém rất nhiều; rồi lượng người tham dự rất đông, đi lại giẫm đạp lên cỏ cây, vi trùng; rồi lúc nấu nướng, rửa ráy… rất nhiều việc làm thương tổn đến những chúng sanh nhỏ bé. Bởi vậy tôi không dám mở đại hội trai đàn chẩn tế. Nếu như ủy thác công việc cho Vương cung hay Đạt quan biện lý thì khó mà được như chánh pháp, bọn họ chỉ cầu lấy danh lợi, xã giao trong xã hội mà thôi, mất hết ý nghĩa chân chính của hội trai đàn. Cho nên, dứt khoát tôi không mở hội trai đàn.
📢 Lời bình:
Thời đại ngày nay người ta mỗi làm một việc tu phước là mở hội trai đàn, cho đó là việc làm tốt đẹp và viên mãn nhất trong các việc thiện. Thậm chí, có người đóng cửa nhập thất, nhưng chỉ mới đóng cửa được một hai ngày, thì thân ngồi trong thất nhưng tâm đã nghĩ đến chuyện mở trai đàn, ngày đêm tính toán, chuẩn bị cho việc mở hội chẩn tế. Cho nên, thường không thể duy trì hoặc đánh mất chánh niệm tu tập, ôm nhiều phiền não. Than ôi! Lời của pháp sư Mân cách nay đã hơn mười thế kỷ vậy mà vẫn không sai.
1.2. Lợi hòa đồng phân
Vào thời Nam Bắc triều, nhà Lương (502-577), ở Tích Đô, chùa Bành Thành, có một pháp sư hiệu Huệ Khai, người làng Ngô Quận, Hải Diêm.
Sư Huệ Khai cùng với hai người bạn đồng tu là Trí Tạng - ở chùa Khai thiện, núi Chung Sơn, và Tăng Mân - ở chùa Trang Nghiêm, Dương Đô, chung học kinh luận. Sau đó, sư Huệ Khai ra giảng kinh, thuyết pháp. Sư giảng rất hay, danh tiếng đồn khắp thiên hạ. Thái thú Dự Chương là Tạ Huệ rất ngưỡng mộ, nhiều lần đi nghe ngài giảng kinh, đồng thời cúng dường rất nhiều vàng bạc, nhưng sư Huệ Khai chưa từng để ý đến, không một lần đến nhà, dù Thái thú cứ năm lần bảy lượt khẩn khoản cung thỉnh. Sư còn đem tiền bạc nhận được từ sự cúng dường phân phát hết cho đại chúng và làm từ thiện.
Thái thú Tấn An là Lưu Nghiệp cúng dường cho ngài một vạn tiền, không đến một ngày, toàn bộ số tiền đó đã được ngài đem đi phân phát hết cho những người bần cùng khổ sở.
Tính tình của sư rất rộng rãi, vui vẻ, tùy hòa, không chú trọng hình thức bên ngoài, áo quần nhiều khi bụi bặm bám đầy cũng không để ý giặt giũ.
📢 Lời bình:
Thuyết pháp mà không nhận của cúng dường đó mới là sự bố thí pháp chân chính. Nếu như mỗi người xuất gia chúng ta ai cũng giống như pháp sư Huệ Khai thì tốt biết mấy!
1.3. Sống chung với côn trùng và bụi bặm
Thời Nam Bắc triều, nhà Lương, ở Dương Đô, chùa Linh Cơ, có pháp sư hiệu là Đạo Siêu.
Sư Đạo Siêu theo học với pháp sư Mân ở chùa Linh Cơ, sau đó sư về độc cư trong một am tranh nhỏ, tuyệt giao bạn bè, không tiếp khách.
Cả căn phòng sư ở bụi bặm phủ đầy, bốn phía tường vách đều nghe tiếng dế và côn trùng kêu.
Có lần, Trung thư Lương Trương Suất ghé đến thăm, ông thấy tình cảnh như vậy liền hỏi: Tiếng côn trùng kêu ầm ĩ, bụi bặm phủ đầy phòng tưởng chừng quá mắt cá, thầy học đạo đến nỗi không biết gì đến hoàn cảnh xung quanh sao?
Sư đáp: Mỗi ngày nghe những tiếng côn trùng nỉ non này có cảm giác như đang thưởng thức một dàn giao hưởng của thiên nhiên, đất trời, của vạn vật muôn loài, không khác nào được nghe một loại âm nhạc được tấu lên từ nhiều thanh cụ khác nhau, như trúc, sáo… Còn bụi bặm thì theo gió thổi mà bay đến đây thôi, tôi chưa bao giờ quét dọn, để ông thấy những thứ này thật là thất lễ!
Thái thú Trương Suất nghe xong vô cùng khâm phục và hết lời tán thán.
1.4. Ở ẩn bên suối
Đời nhà Đường (618-907), ở Đông Dương, chùa Thanh Thái, có pháp sư hiệu Huyền Lãng.
Sư họ Truyền, tự Huệ Minh, hiệu Tả Khê, người Vụ Châu, huyện Ô Thương (nay thuộc Chiết Giang, Nghĩa Ô), là cháu đời thứ 6 của Truyền Đại Sĩ. 9 tuổi xuất gia. Năm 692, sư 20 tuổi, vua sắc trú trì chùa Thanh Thái ở Đông Dương. Nhân thọ giới cụ túc với Luật sư Quang Châu Ngạn, rồi theo học luật nghi, kinh luận. Sư xem hết các sách, tinh nghiên cứu kinh Niết-bàn, từng đến chùa Diệu Thiện nghiên cứu yếu chỉ Thiền học với Thiền sư Ấn Tông. Nghe nói tông Thiên Thai có thể làm cho chúng thanh tịnh thú hướng nhất lý liền đến tham học. Nhân đến chùa Thiên Cung ở Đông Dương, theo Huệ Oai học kinh Pháp Hoa… Sau, nương Thiền sư Cung tu tập chỉ quán. Lại làu thông sách Nho, kiêm luôn nghĩa lý Đạo tông. Thường tu chỉ quán mà nắm được yếu chỉ đạo an tâm. Về sau, sư gặp được rừng núi đẹp, liền ẩn cư bên khe suối ở Vụ Châu, Phố Dương. Thường giữ bên mình 18 vật tùy thân của một Tỳ-kheo, thực hành 20 pháp đầu đà, mặc áo gai, ăn rau cỏ, ngồi yên một chỗ, ròng rã hơn 30 năm.
Sư sống một mình trong một cái am nhỏ, nhưng luôn luôn nhận thức rằng, am tuy nhỏ cũng có thể chứa đựng cả pháp giới vô lượng, đó chính là tâm cảnh trong thế giới Hoa nghiêm, một hạt bụi có vô lượng thế giới. Hơn 40 năm, sư chỉ đắp một chiếc y bảy điều (y thất). Suốt đời sư chỉ dùng một chiếc tọa cụ (ni-sư-đàn, đồ để ngồi thiền). Nếu như không vì việc tra cứu kinh điển thì tuyệt đối không đốt đèn dầu, nếu như không phải là lễ Phật tụng kinh thì tuyệt đối không rời một bước. Nếu sư muốn rửa bát thì lập tức bầy khỉ trong rừng tranh nhau đến đem bát đi rửa cho sư. Lúc sư tụng kinh, chim muông bay đến đậu trước mặt, đuổi chúng cũng không bay. Thứ sử Vương Chính Dung thường thỉnh sư vào thành thuyết pháp cúng dường, nhưng sư đều từ chối, thoái thác rằng có bệnh.
📢 Lời bình:
Người đời nay khi đọc đến sách Đại sư Vĩnh Gia đối đáp với Đại sư Huyền Lãng (tức cuốn Thiền tông Vĩnh Gia), thấy có đoạn ghi rằng: “Kiến đạo không cần phải ở chỗ rừng sâu núi thẳm, tịch tịnh, người vật vô tri, mà ngay những nơi ồn náo không chỗ nào chẳng phải là đạo”, liền sanh tâm coi thường sư Huyền Lãng, cho rằng sư an phận thủ thường, tìm vui nơi cảnh vắng. Nhưng người sau có biết đâu rằng đó chỉ là những lời Đại sư Vĩnh Gia dùng để phá cái tâm chấp pháp của sư Huyền Lãng. Lời nói ấy chỉ là phương tiện tạm thời, giống như trong sách Tín Trung có ghi: “Xuất gia học đạo như thế không phải là chèo thuyền trí tuệ bơi vào biển pháp, nhưng rồi lại muốn bẻ lái quay đầu vào núi hay sao”? Câu này cũng nhằm vào sư Huyền Lãng, với mục đích thôi thúc ngài xuống núi để cứu độ chúng sanh. Tuy nhiên, phong độ và khí thế của sư Tả Khê còn lưu truyền lại hôm nay vẫn là điều mà những người học đạo như chúng ta phải học! Làm người phải nên có nhận thức phân minh, như trong sách Tín Trung, Đại sư Vĩnh Gia đã nói: “Được mất tại người, liên quan gì đến động tĩnh”. Người đời nay nghiệp chướng sâu nặng, không những ở nơi động không thấu đạo đã đành, mà ngay trong tĩnh cũng khó giữ được chánh niệm. Trước không lo ẩn cư tu tập cho đầy đủ nội lực mà đã vội vào chốn thị thành huyên náo hành đạo Bồ tát thì e rằng khó tránh khỏi hệ lụy, rơi vào chỗ lỗi lầm.
1.5. Tiền rơi không nhìn
Đời nhà Tùy (581-618), có pháp sư Phú Thượng.
Sư Phú Thượng hành cước đến chùa Tịnh Đức, ở Ích Châu. Trên đường đi, thỉnh thoảng sư nghỉ lại bên đường, dựng tích trượng, treo một chiếc nón rộng vành lên đó, rồi ngồi dưới nghỉ ngơi và tụng kinh. Sư không bao giờ mở lời hướng đến những người khách vãng lai để hóa duyên. Có ai cúng dường cho tài vật, sư cũng không mở lời cám ơn hoặc làm một cử chỉ tỏ vẻ dấu hiệu ban phước như những vị tăng hóa duyên thường làm, chẳng hạn râm râm chú nguyên trong miệng cầu cho thí chủ được tiêu tai được phước. Bởi đường vắng, hẻo lánh, ít người qua lại, nên nhiều ngày liền sư không nhận được bất kỳ một sự bố thí nào. Có người bảo sư: “Ở thành tây bắc dân cư đông đúc, người qua lại rất đông, sự bố thí cúng dường cũng nhiều, vì sao ngài không qua đó, mà cứ ở mãi chốn này”? Sư trả lời: “Một đồng hai đồng cũng đủ để duy trì mạng sống rồi hà tất phải cần nhiều. Nhiều mà để làm gì”?
Thứ sử Lăng Châu, tên Triệu Trung Thư, là một viên quan khét tiếng tàn bạo, không tin Phật pháp, không kính Tam bảo. Hắn nghe nói đến chuyện sư Phú Thượng, liền cố ý đến thử xem thật hư thế nào. Một hôm, hắn cưỡi ngựa đi qua chỗ sư Phú Thượng đang ngồi, rồi giả vờ đánh rơi một túi vàng gần đó. Phú Thượng vẫn điềm nhiên tụng kinh, xem như chẳng có chuyện gì xảy ra. Thứ sử họ Triệu sau khi bỏ đi đã xa, liền cho người quay trở lại, bày trò lượm được vàng, sư Phú Thượng cũng không để ý. Triệu Trung Thư bấy giờ mới đến hỏi sư:
- Suốt ngày ông ngồi đây không được hơn một đồng, thế mà có cả một túi vàng hơn vạn đồng rơi trên đất cạnh ông đây, sao không nhặt? Thấy người ta nhặt vì sao không ngăn cản?
Sư trả lời: Đó không phải là vật của tôi, vì sao tôi lại mạo nhận là của mình mà ngăn cản người ta lấy đi chứ?
Thứ sử họ Triệu nghe xong, liền xuống ngựa đảnh lễ, sám hối, rồi hết lời tán thán, bội phần khâm phục sư Phú Thượng, đồng thời chuyển tâm quy y Tam bảo.
1.6. Không giữ vải và lương thực
Đời nhà Đường, có pháp sư hiệu là Thông Huệ.
Sư Thông Huệ xuất gia lúc 30 tuổi, một mình vào núi Thái Bạch tu hành mà không mang theo lương thực. Đói thì ăn hoa cỏ và trái cây rừng, khát thì uống nước suối, ngủ thì tựa dưới gốc cây. Suốt ngày sư chăm chỉ tọa thiền, tham cứu, ròng rả như vậy hơn 5 năm. Một hôm, sư dùng cành cây đánh vào gò đất, gò đất bị phá nát hình dạng, sư hốt nhiên đại ngộ.
Cuối đời, sư chỉ mặc một bộ đồ, dùng một cái chăn, một đôi giày, suốt 20 năm. Y phục rách nát, vá víu nhiều lớp, mùa đông cũng như mùa hạ, không hề thay đổi.
1.7. Không nhớ đến tiền
Đời nhà Đường, ở Kinh sư, chùa Hoằng Pháp, có pháp sư hiệu là Tĩnh Lâm.
Tĩnh Lâm người làng Kinh Triệu, Hoa Nguyên. Sư đạo hạnh rất cao siêu, tiếng thơm đồn vang khắp xa gần, tín đồ quy tụ ngày một đông, và sự cúng dường ngày càng nồng hậu. Nhưng tín đồ Phật tử cúng dường tài vật bao nhiêu, sư đều giao cho thị giả quản lý, và cũng không giờ hỏi lại nhiều ít. Về sau, sư muốn làm việc từ thiện, lúc ấy mới hối hận là mình không có tiền. Thị giả đen tiền ra, sư nói: “Ta không biết rằng mình có tiền nhiều như vậy”! Bình sinh, áo quần hư rách, sư đều đơm khâu lại để mặc, chưa bao giờ sử dụng đồng tiền vào việc của cá nhân.
1.8. Cửa không đóng
Đời nhà Đường, ở Kinh sư, chùa Biện Tài, có pháp sư hiệu là Trí Tắc.
Sư Trí Tắc người làng Ung Châu, Trường An. Tính tình sư quang minh lỗi lạc, phong độ tự nhiên, phóng khoáng, không chú trọng đến ăn mặc, thường chỉ đắp một chiếc y bá nạp, quần chỉ che đến gối (tức như quần soọc ngày nay). Trong phòng chỉ có một chiếc giường, một cái bát đất, một cái muỗng gỗ, ngoài mấy thứ đó ra không còn vật dụng nào nào khác. Phòng sư ở không bao giờ đóng cửa. Người đời đều gọi sư là người điên cuồng. Sư nghe người ta gọi vậy cảm khái cười và nói một tràng: “Bảo ta là người điên cuồng, nhưng không biết rằng chính bản thân các người mới là điên cuồng! Người xuất gia là ra khỏi nhà, lìa khỏi tục, vậy mà ngược lại ham lo việc cơm áo, gạo tiền; đi ra thì thích mặc áo đẹp, ở thì thích nhà cao cửa rộng, có tường rào che chắn, cửa đóng then cài, hòm rương buộc nắp… lãng phí thời gian như vậy chỉ làm nhiễu loạn thân tâm, phương phế đạo nghiệp; lại còn ham lo thu góp, cất chứa của cải, suốt ngày bận rộn tiếp khách, tâm luôn lo lắng hơn thua… những hạng người này nếu không phải là người điên thì trên đời này không còn người nào điên nữa”!
1.9. Chân nhân không lộ tướng
Đời nhà Đường, ở Hành Sơn, chùa Di Đà, có pháp sư hiệu là Thừa Viễn (712~802).
Sư họ Tạ, người Hán châu (nay là Tứ Xuyên, Quảng Hán). Lúc đầu học đạo ở Thành Đô, sau đó về ở tại Sơn Nham Trung, phía tây nam dãy Hành Sơn. Có người cúng dường vật thực cho thì sư dùng, không có người cúng thì sư ăn cỏ cây hoa lá. Nhiều người ngưỡng mộ đức hạnh của sư đã tìm đến đảnh lễ, thọ pháp, gặp sư ở giữa khe núi cheo leo, cao và dốc, thân hình tiều tụy, đầu mặt bụi bặm bám đầy, tóc tai bù xù, tự lo lấy việc hái củi, khách vãng lai cứ ngỡ là thị giả của sư, nên không để ý, nào ngờ đâu đó chính là sư Thừa Viễn!
Sư chuyên tu Ban chu niệm Phật. Về sau, xa gần nghe tiếng, kéo đến thọ giáo có hơn vạn người. Quốc sư Pháp Chiếu là môn nhân của sư. Đường Đại Tông cũng từng đến tham lễ, trước sau sắc tứ cho đạo tràng của sư hiệu “Ban Chu đạo tràng”, “Di Đà tự”.
Trinh Nguyên thứ 18, sư nhập tịch, thế thọ 91. Liễu Tông Nguyên soạn văn bi, dựng bên hữu cổng chùa. Đệ tử sư có hơn ngàn người, trong đó có Pháp Chiếu, Nhật Ngộ, Huệ Thuyên, Tri Minh, Siêu Minh… đều là những bậc danh tăng. Sư là Tổ thứ 3 của Tịnh độ tông.
📢 Lời bình:
Vua Nghiêu có lúc ở nhà tranh vách cỏ, người đời nhìn vào chỉ tưởng là thường dân, mà không biết đó là Hoàng thượng; vua Vũ mặc áo quần cũ rách, người ta cũng không nhận ra đó là Hoàng đế, mà còn tưởng là người dân dã, quê mùa! Huống chi là người xuất gia, vốn chỉ dùng một bát ba y để duy trì thân mạng, lại có thể xem trọng bề ngoài sao? Hiện nay, có nhiều người xem trọng y phục, thích lụa là gấm vóc, nuôi nhiều người hầu hạ, còn sợ người ta không biết mình có nhiều tiền. Đi đâu cũng mặc áo quần lòe loẹt, dẫn theo nhiều đệ tử, tín đồ để phô trương thân thế, dương dương đắc ý ở chỗ đông người. Những hạng người xuất gia như vậy đọc đến đây nên cảm thấy hỗ thẹn!
1.10. Mặc lá sen, ăn hạt tùng
Đời nhà Đường, tại Minh Châu, núi Đại Mai, có thiền sư hiệu Pháp Thường.
Sư họ Trịnh, hiệu Đại Mai, người Tương Dương (Tương Phàn, Hồ Bắc), Trung Quốc. Sư xuất gia từ thuở nhỏ ở chùa Ngọc Tuyền, Kinh Châu (Giang Lăng, Hồ Bắc). Năm 20 tuổi thụ giới cụ túc tại chùa Long Hưng. Sư để tâm vào thiền nên đến tham kiến Mã Tổ Đạo Nhất, hỏi: “Thế nào là Phật”? Tổ đáp: “Tức tâm tức Phật”. Sư liền đại ngộ, kế thừa pháp Mã Tổ. Sau sư ẩn cư tĩnh tu nơi núi Đại Mai, huyện Ngân (Chiết Giang).
Có vị tăng theo lệnh Mã Tổ đến núi Đại Mai nói với sư: “Gần đây Mã Tổ lại nói phi tâm phi Phật”. Pháp Thường nói: “Ta chỉ biết tức tâm tức Phật”. Mã Tổ nghe được bèn nói: “Trái mai đã chín”! Từ đó tiếng tăm của sư lẫy lừng, học giả khắp nơi tụ hội.
Pháp Thường ẩn cư trong núi sâu, ít người biết đến. Có lần, quan Quảng lam (giữ muối) viết thư triệu kiến sư, sư từ chối không đến, còn làm một bài kệ gởi Quản lam: “Nơi tôi ở có một cái ao vuông, trồng toàn hoa sen. Tôi lấy lá sen làm y phục che thân, có lẽ dùng cả đời cũng không hết. Lại có mấy gốc tùng cổ thụ rất tốt, tôi nhặt trái mà ăn, ăn hoài cũng còn dư. Tôi cứ nghĩ rằng không ai biết được chỗ ở của tôi, nên rất yên thân một mình lo tu tập đạo thanh tịnh, không ngờ lại có người tìm đến, vậy thì tôi phải rời bỏ chỗ này để đi vào sâu hơn trong núi mà ở thôi”.
1.11. Làm bạn với chim muông
Thời Ngũ đại (907-960), nhà Hậu Chu (951-960), trên đỉnh Phật Thủ, núi Lô Sơn, có đại sư hiệu Hành Nhân.
Đại sư Hành Nhân ẩn cư trên đỉnh Phật Thủ, Lô Sơn, mỗi ngày vào lúc tối, có một con nai và một con chim sơn trĩ đến ngủ bên ngoài thạch thất của sư, trông rất thân mật, như những người bạn chí thân, không hề sợ hãi. Bình sinh, sư Hành Nhân không nuôi đồ đệ, nhưng những tăng nhân ở các chùa am lân cận tự động cúng dường cho sư, hầu hạ sư. Có một hôm, sư nói với thị giả: “Kéo rèm cửa sổ lên, ta muốn đi”. Thị giả kéo rèm cửa sổ lên, sư xuống giường bước đi vài bước, rồi đứng lại, viên tịch, trong tư thế đứng.
📢 Lời bình:
Người có nhiều tham dục đến lúc lâm chung rất đau khổ (dục vọng càng thiêu đốt mạnh mẽ), thậm chí còn tranh đoạt di sản; đối với tài vật, người thân trên đời cứ quyến luyến, nhớ nhung mãi không sao xả được, buông bỏ không đành. Không phải chỉ những người tại gia thế tục mới lâm vào cảnh ấy, mà ngay cả những người xuất gia cũng có hạng người như thế. Nếu như mỗi người xuất gia chúng ta ai cũng có thể làm được như đại sư Hành Nhân, một đời thanh cao lẫm liệt, viên tịch giống như trò đùa, nhẹ nhàng tựa như lông hồng, không phải là rất tốt hay sao?
1.12. Thiểu dục tri túc
Thời nhà Tống (420-479), tại Hồng Châu Vân Cư, có Thiền sư Hoằng Giác Đạo Ưng.
Sư họ Vương, người xứ Ngọc Điền (nay thuộc tỉnh Hà Bắc), nối pháp Thiền sư Động Sơn Lương Giới, tông Tào Động. Sư trụ chùa Chân Như ở núi Vân Cư nên người đời gọi Sư là “Vân Cư Đạo Ưng”. Thụy hiệu Hoằng Giác Thiền sư.
Sư từng huấn giới đồ chúng rằng: “Các ông đều đã là người xuất gia, giống như những phạm tù trong ngục thất vừa được phóng thích ra, từ đây trở đi phải hướng đến đạo lớn liễu sanh thoát tử, xa hẳn trầm luân vạn kiếp. Đây là vận may của các ông, nhân đây, phải chế ngự dục vọng, thường sống tri túc, không nên tham cầu những hư vinh thế tục, phải nên nhẫn chịu đói khát, lập chí học đạo, tu tập pháp vô vi, chơn như tịch chiếu. Các ông phải siêng năng nghe và giữ gìn Phật pháp, hun đúc tài năng, phẩm hạnh ngày một tốt dần lên. Được như vậy thì không có gì có thể quý hơn! Tu hành Phật pháp phải chín lần chết một lần sống, vào nơi nước sôi lửa bỏng cũng không một khắc tạm dừng, phải nỗ lực tinh tấn mãi”.
1.13. Ước mong biển chúng thanh tịnh
Đời nhà Tống (420-479), ở Đông Kinh, có Thiền sư hiệu Từ Thọ Huệ Lâm Hoài Thâm.
Sư họ Ưu, tự Từ Thọ, người đời gọi là “Từ Thọ Thiền sư”, nối pháp Thiền sư Tư Thánh Sùng Tín, tông Vân Môn. Sư trụ chùa Tư Phúc, Tây Am ở Tương Sơn. Tác phẩm: Từ Thọ Thâm Hòa thượng quảng lục.
Có một hôm, sau khi đốt hương tham thiền, diễn ra một cuộc tham vấn nhỏ, sư khai thị đồ chúng:
“Quý thầy hãy ngàn vạn lần quên đi danh và lợi, lấy sự đạm bạc làm vui. Một khi tâm danh lợi thế gian giảm thiểu rồi, ý hướng nghĩ về đạo thanh tịnh tự nhiên phát sinh thêm lớn. Giống như Hòa thượng Biển Đam Sơn, một đời nhặt trái lịch 1 ăn cho đỡ đói. Đại sư Vĩnh Gia không ăn rau cải trồng bằng sự cày cuốc, bởi vì cày cuốc sợ thương hại đến những sinh vật nhỏ bé ở dưới đất bùn, và kính trọng sự lao khổ cực nhọc của người nông phu đã bỏ giọt mồ hôi xuống đất cấy cày hạt gạo; bậc cao Tăng như Hòa thượng Huệ Hưu, 30 năm chỉ mang một đôi giày, lúc đi đường đất không sỏi đá gai gốc thì quải dép lên vai mà đi chân. Các thầy ngày nay cơm áo không thiếu, mỗi thứ hưởng thụ đầy đủ, chưa đói đã ăn, chưa lạnh đã thêm áo, thân thể chưa một hạt bụi bẩn đã tắm gội, chưa đến giờ ngủ đã ngủ, còn như con đường sanh tử thì chưa nắm được rõ ràng, tâm cảnh ô nhiễm chưa rửa sạch, nghiệp chướng chưa đoạn, thì làm sao dám hưởng thụ phước báo”?
1.14. Đắp một y, ăn một bữa
Đời nhà Đường (618-907), ở Ích Châu, chùa Khuông Tuệ, có pháp sư Huệ Hy.
Pháp sư Huệ Hy sống độc cư, không có thị giả, ngày ăn một bữa, không tiếp nhận của người ta cúng dường. Trong phòng, trên mặt đất ngoại trừ những vết chân bình thường đi tới đi lui, còn lại rêu phong mọc đầy, chiếc giường của sư trừ chỗ chính giữa sư thường ngồi là tương đối không có bụi đất, còn lại hai đầu thì bụi đất bám đầy đóng lớp, hình như lâu, thật lâu lắm chưa có người ngồi. Quần áo của sư rách nát, cũ nhàu không thể tả, chỉ có thể che chắn được gió lạnh, mùa đông thì đắp chiếc y cũ rách này, mùa hạ thì cởi nó ra treo lên trên sàn nhà. Về sau, người ta mộ danh sư mà đến yết kiến đảnh lễ, cũng ở trong phòng này mà lãnh giáo. Đại sư đối đãi rất từ bi, hòa nhã, thiết tha, ân cần khuyên bảo, có khi người đến đông quá phải đợi đến mấy ngày mới có thể gặp sư để đàm đạo.
1.15. Một mình giữ cửa chết
Triều nhà Nguyên (1206-1368), ở Hàng Châu, có Thiền sư Thiên Mục Cao Phong Nguyên Diệu.
Sư họ Từ, tự Cao Phong, người xứ Ngô Giang, Tô Châu (nay thuộc Giang Tô) Trung Quốc. 15 tuổi xuất gia, 17 tuổi thụ giới cụ túc, 18 tuổi học giáo Thiên Thai được ý chỉ. Sư chuyên mộ thiền pháp, tham vấn ngài Đoạn Kiều Diệu Luân, sau yết kiến Tuyết Nham Tổ Khâm và được truyền tâm ấn. Năm 1269, khi bạn đồng tham chợt đẩy cái gối rơi xuống đất, sư nghe tiếng động này mà triệt ngộ. Thụy hiệu “Phổ Minh Quảng Tế Thiền sư”. Tác phẩm: Cao Phong Diệu Thiền sư ngữ lục, Cao Phong Hòa thượng Thiền Yếu.
Sư cũng từng tự tay dựng am ở Long Tu, ở 9 năm. Trong khoảng thời gian ấy, không kể mùa đông mùa hạ, chỉ mặc một chiếc nạp y may vá nhiều chỗ.
Sau đó, năm 1279, sư đến thạch động Tây nham, núi Thiên Mục, dựng một thất nhỏ ở hang Sư Tử, đề tên là “Tử Quan” (cửa chết). Trước mặt am là những tảng đá nước nhỏ giọt nhẵn bóng, trơn lụi; phía sau là đất bùn nhão nhẹt. Mỗi lần gió mưa chiếc am lại lung lay theo gió. Sư không nhận của cúng dường, cũng không cần thị giả. Y áo và vật dụng hàng ngày rất đơn giản. Sư không buồn tắm rửa, chẳng cạo râu tóc. Để đến được am sư, phải dùng một chiếc thang dây, nhưng sư đã cắt bỏ, để cắt đứt ngoại duyên. Trải qua 15 năm, sư không bước ra khỏi cửa. Từ đó, tiếng tăm vang xa, số người tham học, tăng tục đến thụ giới đông đến vạn người.
📢 Lời bình:
Giống như mặt trời treo lơ lững ngoài chín tầng mây, những bậc đại đức ẩn cư trong vách núi cao ngàn vạn nhẫn, trước có đại sư Huệ Hy, sau có đại sư Cao Phong Diệu đây, hai ngài quả thật là những bậc siêu trần bạt tục. Trước đây, tôi có lên Thiên Mục Sơn, tiến vào động Trương Công, ghé mắt nhìn xuống thấy khe núi sâu đến ngàn trượng, muôn nghìn cảnh tượng hiện ra trước mắt. Luôn tiện tôi cũng đi yết bái di tích “Cửa tử”. Bấy giờ, trước mắt tôi vẫn còn phảng phất hình bóng oai nghi và dung nhan của đại sư Cao Phong Diệu! Tôi tự than trách thân phận mình sanh sau đẻ muộn không thể thân cận để được nghe ngài chỉ giáo, không ngăn cản được xúc động, nước mắt tuôn rơi, lâu thật lâu không thể kiềm chế được!
1.16. Không ăn tối
Ở tỉnh Chiết Giang, vùng Triệu Hưng, vào mùa an cư, những hành giả tham thiền, nếu mỗi tối làm cơm ăn, gọi là “phóng tam phạn” (bữa cơm thứ ba). Tương truyền, tập tục ăn bữa cơm này rất thịnh soạn, rất nhiều thức ăn, xa xỉ hơn bữa cơm ngọ. Cái tập tục hư hại này lại được truyền rất lâu dài. Thuở xưa, có một vị tiền bối đạo đức cao siêu (tức Thiền sư Pháp Huệ) nghe chúng Tăng phòng bên cạnh làm thức ăn sau giờ ngọ không ngăn được nước mắt, than thở Phật pháp thời kỳ suy đồi, cho nên, cấm người xuất gia ăn quá giờ ngọ, huống chi đêm hôm lại ăn ư? Trong giới luật có ghi: “Người đời khua chén bát ra tiếng, ngạ quỷ nghe không kềm chế được cơn đói, trong cổ tự nhiên lửa bừng cháy”. Huống chi đêm hôm mọi người đã yên nghỉ, khua động chày, máy, mâm, chén… âm thanh truyền vào tai người ta, lại chiên, rán, nấu, thổi, nướng… hương vị truyền vào mũi người ta. Không nhớ rằng đối với chúng sanh phải từ bi dạy bảo, lại phóng túng dục vọng cho thoả bụng miệng, tâm như thế có thể yên ổn ư? Hoặc hỏi: ‘Nửa đêm bụng đói phải làm sao”? Có thể ăn vài loại quả trái cây, bánh kẹo, không phải động đến nồi niêu, vật thực nấu nướng, lại có thể đỡ đói. Huống nữa, người ta giữ ngọ, từ sau buổi trưa cho đến sáng hôm sau, trong khoảng thời gian đó, ngoại trừ uống nước, không ăn một thứ gì nữa. Chúng ta buổi tối dùng mấy thứ bánh kẹo, cây trái, thuốc dưỡng sinh cho đỡ đói lại còn không biết đủ, quả là thái quá đi rồi.
📢 Phụ:
Luật Phật chế là căn cứ lập trường của một thầy thuốc, cho rằng ăn đúng giờ ngọ là điều kiện sống khỏe mạnh và trường thọ, rất phù hợp với thực tại bây giờ. Ngày nay y học cũng đã chứng minh được điều này. Trước kia, phương pháp làm thức ăn bằng nhiệt lượng cao, nhiều tròng trắng trứng đã bị phá hủy, phương pháp làm thức ăn này chỉ là con đường dẫn đến sự béo phì, cao huyết áp, sơ cứng động mạch… những tâm bệnh, rất dễ đưa đến tử vong nhanh chóng. Ăn chay có thể tránh được những thứ tâm bệnh này và ngừa ung thư. Điều này cũng đã được chứng minh và phổ biến rồi. Bữa ngọ ăn ít, người sẽ gầy một chút, nhưng tuyệt đối không dẫn đến kém dinh dưỡng, tinh thần lại rất tốt. Đạo gia cũng có nói rằng: “Anh muốn sống lâu, trong ruột phải thanh tịnh”. Ngày nay người ăn ít sống lâu rất nhiều, như lão Hòa thượng Quảng Khâm, lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam, đều hơn 90 tuổi. Nhìn lại, trên từ Phật Thích Ca, dưới đến lịch đại chư vị tổ sư, không một ai không tu khổ hạnh mà được thành tựu, thậm chí có ngày chỉ ăn một hạt mè, một hạt lúa, đâu đâu cũng có. Mạnh Tử cũng nói: “Kẻ muốn làm việc lớn trong thiên hạ, tất trước phải nhọc gân cốt mình, đói thân thể mình, khổ tâm trí mình, làm mà không rối loạn, đây gọi là động tâm nhẫn tánh, chỗ lợi ích tăng thêm không ít”. Tài năng sửa trị việc đời còn cần phải ‘nhọc gân cốt, đói thân thể’, huống chi người xuất thế hướng đến đại đạo vô thượng, có thể ‘suốt ngày no nê’, vừa đói là ăn hay sao?
Huống nữa, “no ấm thì nghĩ chuyện dâm dục”, sẽ là chướng ngại lớn cho việc tu hành, người xuất gia không thể không biết việc đó. Lợi ích của việc ăn đúng ngọ rất lớn. Nhỏ thì có thể kéo dài tuổi thọ, thân thể kiện khương, lớn thì có thể liễu sanh thoát tử. Bởi trong Bát quan trai giới thì chính là 8 giới với một ‘trai’. Trai có nghĩa là ăn đúng ngọ. Công đức của Bát quan trai giới lớn đến mức độ nào? Người tu Tịnh độ nếu như giữ thêm 8 giới quan trai, vãng sanh tất không bị rối loạn. Niệm Phật trong một khoảnh khắc rất quan trọng. Nếu lúc lâm chung không như pháp ‘nhất tâm bất loạn, tâm bất điên đảo’, rất dễ tuỳ theo nghiệp mà đi, rất nguy hiểm! Vạn nhất tâm rối loạn, điên đảo thì phải làm sao?
Thứ nhất, phải nhờ sự trợ niệm của đạo tràng niệm Phật, nhắc nhở chánh niệm, đánh khánh dẫn dắt, xem tượng Phật…Vì vậy, tổ chức đạo tràng ‘liên xã liên hữu’ cũng rất quan trọng, đây cũng là một phương diện phản ánh pháp môn niệm Phật của Đại thừa, nhập thế và tinh thần bình đẳng.
Thứ hai, chính là nhờ vào sự trì giới, bảo đảm có sức mạnh rất lớn. Người xem kinh Dược Sư đều coi trọng việc tiêu tai thêm thọ, đâu biết rằng lợi ích lớn nhất mà Phật Dược Sư cho chúng sanh ở cõi Ta bà này chính là vãng sanh sang thế giới Lưu Ly Tịnh độ của Ngài ở phương Đông và thế giới Tây phương Cực lạc của Phật A Di Đà. Trong kinh có nói như sau:
“Lại nữa, Mạn Thù Sư Lợi, nếu có bốn chúng, Tỷ kheo, Tỷ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di và những người có niềm tin thanh tịnh, thiện nam, tín nữ… có thể thọ trì tám phần trai giới, hoặc trải qua một năm, hoặc ba tháng, thọ trì những điều đã học, thì nhờ thiện căn này mà nguyện sanh sang thế giới Tây phương cực lạc, nghe chánh pháp đức Phật Vô Lượng Thọ nói; còn chưa được định, nếu nghe danh hiệu đức Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, lúc lâm chung có tám vị Bồ tát lớn: Văn Thù Sư Lợi, Quán Thế Âm, Đắc Đại Thế Chí, Vô Tận Ý, Bảo Đàn Hoa, Dược Vương, Dược Thượng, Di Lặc, tám vị Bồ tát này từ trên hư không mà đến, chỉ cho con đường để đến thế giới kia, từ trong hoa báu nhiều màu tự nhiên hoá sanh”.
Xem đó có thể thấy rằng, giữ giới chỉ có ba tháng thì đã có 8 vị Bồ tát lớn đến đón về Tây Phương, sự việc vô cùng tiện nghi. Lòng từ của chư Phật và Bồ tát nghĩ ra rất nhiều phương tiện cho chúng sanh, chỉ vì chúng ta không biết lợi dụng đó thôi. Cho nên, người niệm Phật nếu như chưa được nhất tâm bất loạn thì nên giữ giới, ăn đúng ngọ cho tốt!
1.17. Hoá duyên trái lẽ
Trong những thanh quy của Tăng đoàn chùa Vân Thê, có một điều như vầy: “Người đi quyên tiền, hoá duyên trái lẽ, trục xuất khỏi sơn môn”.
Có một thầy nói: Không cần phải cấm điều này, cấm thì cơ hội gieo trồng phước điền của chúng sanh sẽ giảm ít đi. Bởi vì, tuy người phạm tội hoá duyên trái lẽ, vi phạm nhân quả, nhưng có thể làm cho chúng sanh phá bỏ được tánh xan tham, xả bỏ tài vật thì cũng được lợi ích và công đức. Ngày xưa, khi Phật còn tại thế, người xuất gia mượn danh nghĩa của Phật để mưu sinh đức Phật đã bao giờ vì những người này chế một điều cấm chưa?
Tôi trả lời: Lời nói của thầy cố nhiên không sai, phát tâm tốt, nhưng thầy chỉ biết có một mà không biết có hai. Hóa duyên trái lẽ, cái nhân giả dối thì quả mờ mịt, người bố thí biết được, vì đây mà thối mất đạo tâm, về sau không bố thí nữa, sao có thể khiến người ta phá xan tham được? Lúc Phật còn tại thế, có các đệ tử đi du hoá ở các phương xa trở về, đi qua một thôn lạc, người dân ở trong vùng ấy thấy các thầy Tỷ-kheo này từ xa vội vàng đóng cửa lại hết. Các thầy mới hỏi một số người gần đó vì sao lại có tình trạng sợ hãi các thầy sa môn đến vậy, người ta trả lời nguyên do là vì người ta sợ các thầy hoá duyên trái lẽ! Số là trước đây có các thầy Tỷ-kheo xấu đi hoá duyên trái lẽ, cho nên họ sợ quý thầy ở đây cũng giống như những Tỷ-kheo kia. Sự việc xảy ra như vậy, quý thầy sau khi trở về bẩm báo với đức Phật, đức Phật nghe rồi cho gọi các thầy Tỷ-kheo hoá duyên trái lẽ đến trách mắng, vì sao có thể nói đối với việc này Phật không lập giới cấm? Phải thận trọng, đừng đi hoá duyên trái lẽ.
1.18. Thầy giảng pháp
Những vị pháp sư giảng kinh, thuyết pháp có công đức rất lớn, vì vô hình trung thay đổi tâm tánh chúng sanh lúc nào không biết. Nhưng chưa từng nghe có thầy thí thực nào làm tròn trách nhiệm, có thể giao thiệp và đi lại làm bạn với quỷ thần được. Chúng ta nên so sánh hai hạng người này xem có lỗi lầm ít nhiều gì không? Tôi thì cho rằng không nhất định ai có lỗi ai không có lỗi. Thầy giảng kinh nếu như không cẩn thận thì cũng có thể chuốc lấy lỗi lầm rất lớn. Thầy thí thực cũng vậy. Thí thực chỉ là một pháp môn, một pháp giống như dễ dàng tinh thông, nhưng vô cùng khó thực hành. Kinh luận thì nhiều loại, muốn mỗi mỗi đều phải tinh thông thì rất khó khăn. Bởi vậy, người xưa, nhiều vị chỉ chuyên nghiên cứu, học tập một pháp môn, như chuyên về nghiên cứu nghĩa lý kinh Pháp Hoa, hoặc chuyên về kinh Hoa Nghiêm… Người bây giờ thì mỗi kinh, mỗi luận đều tuyên giảng, so với chư vị đại đức tiền bối phải chăng họ cao minh hơn? Nhưng mà chưa có bậc minh sư dạy dỗ hướng dẫn thì làm sao dám tự cao tự đại? Y theo cái biết nông cạn, suy luận chủ quan của mình mà phát biểu, thích đề cao cái mới, lập dị rồi phê bình bậy bạ những bậc tiền bối? Kinh luận chỉ có xem qua một chút đã tiến hành giải thích, chú giải, nhưng chưa có một chút ý kiến bàn luận nào phát huy được rõ ràng và nhất là chưa thể nhập hay chưa thực chứng. Làm như vậy thì không đúng rồi! Nhất định phải nghiên cứu lâu ngày, trường kỳ cho thật tinh thâm, nghiên cứu thảo luận nhiều mặt, ôm ấp trong lòng nguyện vọng sáng đạo vốn có làm gốc, không mưu đồ lợi dưỡng, danh vọng riêng mình, như thế mới có nhiều công đức mà không lỗi lầm. Hoặc giả, có người hỏi rằng: “Đại sư Trí Giả nói: ‘Vì lợi dưỡng mà hoằng dương kinh Phật cũng có đầy đủ danh nghĩa Bồ tát, lời nói này như thế nào?’. Ồ, đại sư Trí Giả nói câu này là vì khích lệ những người có đầy đủ lòng từ bi nhưng hãy còn thiếu hạnh nguyện Bồ tát vào đời độ sanh mà nói, không phải vì những người tham cầu danh lợi mà nói. Nếu như không suy nghĩ tìm hiểu ý nghĩa của câu nói này, rất dễ dàng hiểu lầm.
1.19. Lợi ích của người xuất gia
Chư vị đại đức thuở xưa có nói: “Người tốt nhất chính là người xuất gia”; trong dân gian cũng có lưu truyền một câu như thế này: “Một người con xuất gia chín đời tổ tiên được sanh thiên” (nhất nhân hành đạo cửu huyền thăng). Những câu nói như vậy đều là tán thán, khen ngợi người xuất gia, nhưng chưa nói xác định rõ ràng chỗ lợi ích của người xuất gia. Suy cho cùng thì lợi ích của người xuất gia là ở chỗ nào? Thật khó nói, người xuất gia không cần phải cấy cày, không đi dệt vải mà vẫn có cơm ăn, có áo mặc, đó là lợi ích của người xuất gia sao? Hoặc giả nói, không cần phải mua nhà, không cần phải thuê phòng, nhưng vẫn có chỗ cư trú, đó là lợi ích của người xuất gia? Hoặc nói, quốc vương đại thần ủng hộ, tín đồ thí chủ cung kính, trên không bị quan lại bắt đi lính, dưới không bị thứ dân quấy nhiễu mà lại được tự nhiên vui vẻ, thanh nhàn, phóng khoáng, đó là lợi ích của người xuất gia?
Người xưa có bài kệ nói vầy:
“Hạt gạo của thí chủ
Lớn tựa núi Tu di
Nếu đạo lớn không thành
Mang lông đội sừng trả”
Lại nói: “Một ngày kia lão Diêm Vương tính toán cơm tiền với anh, xem anh lấy gì bồi thường?”. Xem đây đủ thấy, người xuất gia, trái lại nấp kín bên trong một cây đại tai họa, lại còn nói là lợi ích sao? Cái gọi là lợi ích của xuất gia chính là có thể thoát được phiền não, dập tắt vô minh, chứng được vô sanh pháp nhẫn, liễu thoát sanh tử, đây mới là việc làm tối thắng, cao quý hơn hết, trong loài trời, người. Hơn nữa, cha mẹ dòng họ cũng có thể nhờ đây mà ân triêm đức hạnh. Nếu không như lời này, dù có giàu có đến thiên vàng vạn bạc, cho đến được vinh hiển làm quốc sư cho bảy đời Hoàng đế đi nữa (như Thanh Lương quốc sư) cũng chẳng có lợi ích gì để nói! Thật tại tôi vạn phần lo sợ, sợ phạm vào lỗi lầm lớn này, đồng thời nói với các bạn đồng tu cùng nhau cảnh giác, lo sợ mà gắng tu.
TỔNG LUẬN
Tỷ-kheo là tiếng phạn Bikkhu, người Trung Hoa dịch là Khất sĩ. Sống một mình, thanh tịnh tu hành mới gọi là Khất sĩ. Nếu như còn nhiều nhu cầu, nhiều sự nuôi dưỡng, tham dự nhiều việc, đây không phải là trái lại nghĩa gốc của hai chữ Tỷ-kheo sao? Chương này ghi chép lại sự việc từ pháp sư Mân, cho xuống đến chư vị đại đức, khoảng thời gian đó cho đến hôm nay có trên một ngàn năm lịch sử, nhưng phong độ và khí thế của quý ngài, vẫn còn lưu truyền cho đến hôm nay, chưa tiêu mất. Nghe biết phong độ, khí tiết cao sáng của quý ngài mà không quyết chí vươn lên lại có thể xứng đáng làm Tỷ-kheo sao?
Chương 2 NGHIÊM CHÍNH
(đọc thêm ở link NGUỒN)
Chương 3 HẠNH TÔN SƯ
(đọc thêm ở link NGUỒN)
Chương 4 HẠNH HIẾU THÂN
(đọc thêm ở link NGUỒN)
Chương 5 HẠNH TRUNG QUÂN
(đọc thêm ở link NGUỒN)
Chương 6 HẠNH TỪ VẬT
(đọc thêm ở link NGUỒN)
Chương 7 CAO THƯỢNG
(đọc thêm ở link NGUỒN)
Chương 8 TRÌ TRỌNG
(đọc thêm ở link NGUỒN)
Chương 9 HẠNH GIAN KHỔ
9.1. Nhiều năm tu hạnh đầu đà
Thời Phật còn tại thế, tôn giả đại Ca-diếp tu khổ hạnh, mặc dù tuổi đã lớn vẫn không bỏ lối tu này. Phật thương ông tuổi già sức yếu, khuyên rằng: “Thầy liên tục tu khổ hạnh nhiều năm, nên nghỉ ngơi một chút”. Tôn giả Ca-diếp vẫn một mực tu tập khổ hạnh như vậy. Phật khen ngợi: “Thầy có thể làm gương mẫu cho tất cả chúng sanh noi theo, chính như Ta một đời tại thế, có người tu tập khổ hạnh giống như thầy, thì Phật pháp có thể trụ ở đời mãi mãi, nếu như không có người tu khổ hạnh thì Phật pháp sẽ diệt vong. Thầy quả thật là người gánh vác việc lớn của Như Lai”! Sau đó, nhân trong một buổi pháp thoại tại non Linh Thứu, Thế Tôn đưa lên một cành hoa, Ngài Ca-diếp mỉm cười, chánh pháp nhãn tạng, lấy tâm truyền tâm, trao cho đại Ca-diếp, trở thành sơ tổ Thiền tông ở Ấn Độ.
📢 Lời bình:
Hạnh đầu đà còn tồn tại hay diệt vong đều quan hệ đến sự tồn tại hay diệt vong của Phật pháp, đây là lời nói từ kim khẩu của Phật. Câu nói này vẫn còn văng vẳng bên tai, vậy mà người xuất gia ngày nay, ăn thì quá nhiều, mặc thì quá đẹp, trang hoàng chỗ ở thì quá sang trọng, tứ chi mệt mỏi lười biếng, không muốn làm việc, vật chất trang sức, tiêu khiển, thưởng ngoạn giống như một người phú quý mà không biết xấu hổ. Phật pháp suy vi, thật tại khiến cho lòng người vô cùng đau xót! Sơ tổ Ca-diếp ở Ấn Độ, phương Tây, và chúng ta, người Trung Quốc, phương Đông, quốc thổ không đồng, nhưng những việc gương mẫu Ngài đã làm, lẽ nào Ngài đã biết trước: sau khi Phật pháp ở Ấn Độ suy vi, Phật pháp (mà đặc biệt là Thiền tông) thạnh hành ở Trung Quốc, đến hôm nay có những bệnh xa hoa mà không tu khổ hạnh, nên đã đặc biệt để lại phong độ này để làm lương dược đối trị cho con cháu của Ngài chăng? Chỉ xin nguyện con em Thiền môn noi theo gương mẫu tổ sư Ca-diếp đã làm, tu hành không nên lấy chỗ thời đại mạt pháp mà tự cam chịu thụt lùi.
9.2. Trải qua đủ mọi hiểm nạn
Triều nhà Tấn, có pháp sư Vô Khát, ở Hoàng Long Đàm. Sư nghe nói đại sư Pháp Hiển ở chùa Kinh Sư, Giang Lăng, cùng với các thầy Tuệ Cánh, Đạo Chỉnh… đến Tây Trúc thỉnh kinh, tham học, cũng phát thệ nguyện đến đó một lần.
Thế là, vào đời Tống Vũ Đế, thời Nam Triều (niên hiệu Vĩnh Sơ năm thứ I, 420 tl), sư tập hợp các bạn đồng tu như Đàm Lãng, Tăng Mạnh,… cả thảy 25 người, xuất phát từ Trường An đi Tây Thiên, vượt qua sa mạc.
Sa mạc đó, trên không có chim bay, dưới không có thú chạy, tuyệt tích không có bóng người, nhìn về phương tây, một dãi mênh mông, tuyệt không dấu vết, tất cả đều không biết nên đi về hướng nào mới đúng, chỉ biết nhìn mặt trời để xác định đông tây, xem xương cốt của người bỏ lại để xác định đã có người đi qua đây bỏ mạng, rồi quyết định lần theo dấu vết mà đi. Đến dãy Thông Lĩnh, vùng này không kể là mùa đông hay mùa hạ đều có tuyết rơi, có ác long thổi khí độc, gió thổi bụi đá bay như mưa. Lại đến dãy Đại Tuyết Sơn, dưới núi có sông lớn, nước sông chảy rất mạnh giữa hai dãy núi đông-tây, các sư nối dây thừng lại làm cầu, mười người đi qua trước, đến bên kia đốt lửa làm tín hiệu, người phía sau xem thấy khói lửa biết người đi trước đã qua tới nơi an lành mới yên tâm đi theo; nếu như rất lâu không thấy khói lửa thì biết rằng gió lớn đã thổi mất cầu giây, người đã bị rơi xuống sông rồi.
Vượt qua dãy Tuyết Sơn rồi, vách núi cao và dốc, không có chỗ đứng chân, trên vách núi người trước có lưu lại cây xuân, vách núi có lỗ, mỗi lỗ một cây xuân tương đối tốt.
Mỗi người cầm 4 cây xuân, từng bước leo từ dưới lên trên, lại nắm cây xuân phía trên nữa, cứ như vậy lần lượt nắm cây leo lên, trải qua ba ngày mới lên đến đất bằng, điểm lại các bạn cùng đi thiếu mất mười ba người.
Tiếp tục cuộc hành trình đi về phía trước, đến trung Ấn Độ, trên đường không có gì cả, chỉ thấy đồng trống mênh mông. Hành lý mang theo bấy giờ chỉ còn lại một ít đường làm lương thực, trong 13 còn lại chết thêm 8 người nữa.
Đại sư Vô Khát lâm vào hoàn cảnh khó khăn, nguy hiểm, trong lòng chỉ biết niệm Bồ tát Quán Thế Âm. Chưa vượt qua được đoạn đường nguy hiểm, đến Xá Vệ quốc lại gặp một bầy voi dữ, thế là tất cả mọi người đều phó mặc tính mạng cho Bồ Tát Quán Thế Âm. Bỗng nhiên xuất hiện một con sư tử, bầy voi dữ cuối cùng tự rút lui hết.
Đến sông Hoàng Hà lại gặp một bầy tê giác, vẫn phó mặc tính mạng, niệm Quán Thế Âm, không bao lâu thì có một con chim Thứu rất lớn bay lại, bầy tê giác cũng sợ hãi chạy đi. Cuối cùng thỉnh được kinh Phật, tại Nam Ấn Độ, theo đường biển mang kinh sách trở về Quảng Châu.
📢 Lời bình:
Đọc truyện đại sư Vô Khát đi Thiên Trúc, nhớ lại ân đức và tinh thần thỉnh kinh cầu đạo của tổ sư hơn một ngàn năm trước, không ngăn được lòng cảm động rơi nước mắt. Hiện nay, chúng ta tụng đọc một câu một chữ kinh điển đều là xương máu, mồ hôi của tiên đức cả! Nếu như đối với kinh điển mà khinh thường, tay giơ không rửa mà cầm kinh, đem kinh bỏ chỗ không thanh tịnh, hoặc cất giữ mà không đọc, đọc mà không y theo lời để tu hành, cho đến dùng kinh để cầu cơm áo, danh lợi mà thôi, những việc làm như vậy, thì thật vô cùng tội lỗi với muôn vàn lao khổ, bỏ sống thỉnh kinh của cổ đức. Thật đau lòng thay!
9.3. Để tang khi Phật pháp bị huỷ diệt
Triều nhà Tuỳ (581-618), tại Tương Châu, chùa Diễn Không, có sư Linh Dụ (Xem chương 2, mục 2.1). Khi thấy triều nhà Bắc Chu (557-581), vua Vũ Đế (561-597) tiêu diệt Phật giáo, sư rất bi ai, mặc lễ phục, đầu đội khăn để tang Phật pháp, giống như bị mất cha mẹ vậy. Sư đợi đến nửa đêm mới đàm luận giáo lý Phật đà, sáng ra thì đọc sách thế tục, ẩn cư để tang chờ ngày phục hưng Phật giáo.
9.4. Châm kim vào đùi để chế tâm vọng niệm
Triều nhà Tuỳ, ở Triệu Quận, núi Chương Hồng, có sư Trí Thuấn, người Đại Lục, Triệu Châu. Sư chuyên tu pháp môn quán niệm, mỗi khi vọng niệm khởi lên, không có cách gì ngăn chặn, sư liền chích vào đùi, chích cho đến khi chảy máu, hoặc giả sư mang cục đá lớn đi nhiễu quanh tháp, luôn luôn giữ chánh niệm, từ trước tới nay chưa có một giây phút xao lãng, buông lung chánh niệm. Trên đùi của sư, nơi chỗ bị chích, những vết vằn tróc từng mảng nhiều lần, trông giống như cẩm điểu.
9.5. Sang Tây Trúc thỉnh kinh
Triều nhà Đường, ở Kinh sư, chùa Đại Từ Ân, có Pháp sư Huyền Trang phát nguyện sang Tây Trúc thỉnh kinh mang về nước. Vào năm Trinh Quán thứ 3 (629), đời vua Đường Thái Tông, sư một mình sang Tây Trúc, vượt qua muôn dặm gian nan, nếm đủ mùi khổ cực, vượt qua các vùng sa mạc, qua nước Cao Xương, đến nước Kế Tân.
Trong vùng này có rất nhiều hổ báo, chưa biết phải đi tiếp thế nào, chỉ biết đóng cửa niệm Quan Âm gia bị. Đến đêm hôm đó, lúc mở cửa ra, có một vị Hòa thượng đi đến, Huyền Trang lễ bái cung kính tiếp đón, lão Hòa thượng dạy sư trì tụng kinh Bát Nhã, thế là hổ báo tự nhiên trốn mất, ma quỷ không hiện hình, sư tiến thẳng về nước Phật, thỉnh được kinh trở về. Sư đã đi qua hơn 150 nước, vào năm Trinh Quán thứ 19 (945), mùa đông, sư về đến Kinh sư Trường An.
9.6. Việc lao nhọc làm trước
Triều nhà Đường, ở Phần Châu, chùa Quang Nham, có pháp sư hiệu Chí Siêu, người Phùng Dực, Đồng Châu. Lúc 27 tuổi quy y và xuất gia với Thiền sư Huệ Tánh, ở chùa Khai Hóa, tỉnh Tinh Châu. Sư Chí Siêu tự thanh lọc thân tâm, oai nghi đoan chính, siêng năng làm việc phục vụ đại chúng, ngày lo hai bửa cơm ăn và những việc nhặt vặt cho hơn một trăm người xuất gia. Sư phục vụ không gián đoạn, mỗi khi gặp việc khó khăn cực nhọc sư đều làm trước. Sau đó, sư đến xây chùa Quang Nham, ở Phần Châu, ngày đêm tinh tấn tiếp dẫn hậu học, dạy dỗ mọi người. Đương thời, triều đình nghiêm cấm, nếu chưa được sự đồng ý của chính phủ thì không được tự tiện thế phát độ người xuất gia, người nào vi phạm sẽ chịu cực hình, vậy mà sư Chí Siêu không sợ, vẫn tiếp tục độ người xuất gia như thường. Một thời người ta trốn đời đi tu, bốn phương tụ lại, nương tựa sư tu tập như nương tựa Thái Sơn.
9.7. Rận rệp trên người không bỏ
Triều nhà Đường, ở Úy Châu, chùa Ngũ Đài, có sư Pháp Vân, người Cao Dương. Sư ở tại chùa Mộc Qua, Ngũ Đài Sơn, một mình một bóng trong lò gạch. Áo quần cũ rách không thể tả, bọ chét và rận nhảy đầy, sư mặc cho chúng hút máu, sinh sản trên người. Đã từng an cư kiết hạ trên núi, đất rận, bọ chét rất nhiều, bám trên người sư cũng không nở bỏ đi, tấm chăn bị chúng bám vào giống như máu đong lại thành một tấm. Pháp Vân chỉ tự trách mình nghiệp chướng sâu dày, tình nguyện trả cho hết nghiệp, tuyệt đối không than vãn. Bố thí máu như vậy hơn bốn mươi năm.
📢 Lời bình:
Không trừ rận rệp há không phải là giống như lối tu khổ hạnh của ngoại đạo sao? Không phải. Nếu như khổ hạnh là phương pháp tu tập để thành đạo thì đó quả thật là tà kiến không sai.
Nhưng còn sư Vân thì khác. Sư tự trách mình và tự trả nghiệp, giống như Phật Thích Ca thuở xưa bị quả báo ăn cám ngựa, bị ám sát bằng gươm để trả nợ xưa, đâu thể nói là giống ngoại đạo được?
9.8. 6 năm giã gạo
Đời nhà Đường, tại Tinh Châu, chùa Nghĩa Hưng, có sư Đạo Lượng, người Loan Thành, Triệu Châu. Sư vào núi Phong Long (tức Phi Long), với 30 người bạn tu tập, mỗi ngày tụng kinh tu trì. Sư lo việc ngoài cho cộng đồng tu tập, mỗi ngày sư đi ra ngoài giã năm đấu gạo mang về, như vậy 6 năm, chưa từng mệt mỏi, gián đoạn.
Sư đi chân đất ba năm, tối về nghỉ với chúng. Sau sư khai giảng Giới luật, vang danh khắp nước, thính chúng, đồ đệ khoảng 800 người. Về sau có hơn 40 người thành giảng học sĩ.
9.9. Không làm không ăn
Triều nhà Đường, ở Hồng Châu, có Thiền sư Bách Trượng Hoài Hải, trú trên đỉnh núi cao chót vót trăm trượng nên gọi là Bách Trượng. Sư mỗi ngày đều lao tác khổ nhọc với chúng để cung cấp sự sống cho mình và cho Tăng chúng.
Đại chúng thấy sư già yếu không nở tâm để sư lao động, khuyên sư nghỉ ngơi, sư nói: “Đức hạnh của tôi mỏng manh đâu dám lấy sức lao động của người khác để nuôi sống mình”. Đại chúng vẫn không muốn để cho sư làm, thế là đem cuốc của sư dấu kín. Bách Trượng vì vậy không ăn. Đại chúng vô phương ngăn cản, chỉ còn biết đem cuốc ra cho sư làm, nhân việc này mà có câu “Một ngày không làm thì một ngày không ăn”.
📢 Lời bình:
Đức hạnh như Bách Trượng mà còn nói là đức hạnh mỏng manh, không dám làm nhọc người khác, huống gì chúng ta. Hoặc giả có người nói: Người đảm đương việc trụ trì thì phải chuyên lo hoằng pháp, lợi ích chúng sanh, mặc dù mỗi ngày tiêu phí hết tiền nghìn, sai khiến cả trăm người vẫn không can hệ gì. Trái lại, cực khổ đi làm những việc nhỏ nhặt, đây thật là không biết việc lớn, cố chấp tiểu tiết. Ôi! Đại sư Bách Trượng kiến tạo Tòng lâm, lập thanh quy làm mô phạm cho ngàn vạn đời, lẽ nào ngài không biết đến những việc này? Ngài làm như vậy là muốn để cho những người xuất gia đức hạnh mỏng manh mà ham thích hưởng thụ cơm áo cảm thấy hổ thẹn!
9.10. Vạn dặm quyết nghi
Triều nhà Đường, ở Ích Châu, có Thiền sư Đại Tuỳ Pháp Chơn.
Sư họ Vương, người Tử Châu (Tam Thai, Tứ Xuyên). Lúc trẻ xuất gia tại chùa Huệ Nghĩa (Viện Trúc Lâm, chùa Hộ Thánh), sau khi thụ giới cụ túc sư đi du phương phía nam, tham học với các ngài: Đạo Ngô Viên Trí, Vân Nham Đàm Thạnh, Động Sơn Lương Giới, sau cùng nơi thiền hội Quy Sơn Linh Hựu sư khắc khổ tu luyện cho đến ngộ đạo trở thành truyền nhân tông Quy Ngưỡng. Trở về chùa Long Hoài núi San Khẩu, Thiên Bành (Bành huyện, Tứ Xuyên), rồi dời sang am Mộc Thiền, núi Đại Tùy trụ trì hơn 10 năm, bóng hình không ra khỏi núi mà tiếng tăm vang ngoài xa, kẻ học đạo khắp nơi tụ hội. Vua ban hiệu “Thần Chiếu Đại Sư”.
Một hôm, có vị Tăng đến hỏi sư: “Vào kiếp hoại, thì đại thiên thế giới đều hoại, bổn tánh này hoại hay không”?
Sư đáp: Hoại!
Tăng hỏi: Đã như vậy, chơn như bổn tánh cũng tùy theo thế giới hoại mà tiêu mất đi chăng?
Sư đáp : Đúng! Tùy nó tiêu mất luôn.
Vị Tăng này hoài nghi câu nói ấy. Thế là đến khắp muôn nơi tìm thầy tham vấn, trải qua núi lớn sông sâu khắp chốn Tòng Lâm, xa đến vạn dặm.
📢 Lời bình:
Người xưa vì một chút nghi ngờ khó hiểu trong tâm trí, thì không dám tự mình phô diễn, miễn cưỡng tắc tránh qua loa cho xong mọi chuyện, mà nhất định phải hỏi cho sáng tỏ, chừng nào bùng vỡ, phải thông hết mọi nghi hoặc mới thôi, đâu kể gian khổ muôn dặm xa xôi. Chỉ vì một câu nói “tuỳ tha khứ” mà vị học Tăng vượt qua ngàn núi muôn sông, tất cả chỉ vì đạo lý này đây! Người xuất gia ngày nay, bảo họ đi tìm thầy học đạo, chỉ đi vài bước thì đã nhíu mày; trái lại bảo chúng đi tìm cầu danh lợi thì dù phải đi vạn dặm cũng nhanh nhẹn vui vẻ lên đường. Còn giống như Hòa thượng ở Triệu Châu 80 tuổi vẫn còn hành cước, Thiện Tài Đồng Tử trải qua trăm thành sương khói, tham học với 53 vị thiện tri thức. Hành trì gian khổ trác tuyệt như vậy, cách đây dường như rất xa, rất xa, không còn thấy những người như vậy nữa.
9.11. Tự tay làm việc với chúng
Triều nhà Tống, tại Đàm Châu, Thiền sư Mộ Kiết Chơn Như, ở núi Đại Qui, người Lâm Xuyên, Phủ Châu, còn có hiệu là Triết Thị Giả. Sư trú trì chùa Đại Quy Sơn, lãnh chúng hơn hai ngàn người. Sau buổi cơm trưa, nhất định đến sau giảng đường cùng với đại chúng uống trà, khai thị. Mỗi ngày, lúc công khoá giảng dạy hoàn tất nghỉ ngơi, sư đích thân đi lao động. Sư có thể sai thị giả, nhưng sư từ chối và làm công tác như mọi người, từ trước tới nay không sai sót. Mỗi đêm khi lên lễ Phật, sư xem xét chánh điện và đi đốt đèn hành lang. Nếu như mệt mỏi rã rời thì sư dùng cái chăn trùm đầu lại, tại Tam thánh đường không cởi áo lót, ngủ một chút mà thôi.
9.12. Khiêm cung làm việc cực khổ
Triều nhà Tống, có pháp sư Tăng Tạng. Sư thấy chùa Tăng thì lễ bái, gặp Đại đức thì hành lễ. Bất cứ người xuất gia hay tại gia làm lễ sư, sư rất khiêm tốn khom lưng cúi đầu mà đi ra. Mỗi khi làm việc với đại chúng, sư đều đem thân ra làm nô bộc cho mọi người, hết sức làm việc; xem thấy áo quần cũ rách dơ bẩn bất cứ của ai, sư gom lại giặt sạch sẽ hoặc may vá lại. Đến mùa hạ, vào mỗi tối Sư cởi áo treo lên rồi vào trong rừng đem thân bố thí máu cho các loại muỗi, ve, đỉa, ruồi vàng… hút máu. Sư thường hay niệm danh hiệu Phật A Di Đà, chưa từng gián đoạn, tinh tấn niệm Phật như vậy nếu dùng toán số cũng không tính đếm được bao nhiêu biến mà kể.
📢 Lời bình:
Đại sư Ổn Lăng (Triều nhà Tống, ở Tuyền Châu, Thiền viện Bảo Thắng, sư hiệu Giới Hoàn, vì là người Ổn Lăng, người ta thường gọi là sư Ổn Lăng), có một câu danh ngôn: “Người xuất gia ơi! Người ta lao động cực nhọc, cuốc bẩm cày sâu, còn ông thì ngồi trong mát, yên ổn mà ăn; người ta khom lưng quỳ gối lễ lạy, ông thì đứng đó thọ lễ, nếu như không thoát được vòng sống chết, thì tội lỗi này lớn quá đi”! Tuy nhiên, có thể làm được người như lão Tăng Tạng đây thì đại khái không có vấn đề gì.
9.13. Khắc khổ làm việc chúng
Triều nhà Tống, tại Nam Khương, núi Vân Cư, có Thiền sư Đạo Giản.
Sư họ Lô, người Ích Dương (nay là huyện Trác, tỉnh Hà Bắc), Trung Quốc. Sư nối pháp Thiền sư Đạo Ưng, thuộc tông Tào Động đời thứ 3, trụ Vân Cư kế thừa sự nghiệp của Thầy.
Lúc sư đến tham yết Thiền sư Đạo Ưng. Thiền sư Đạo Ưng và sư đối thoại với nhau ba ngày. Đạo Ưng vô cùng khen ngợi căn khí của sư, răn dạy sư phải khắc khổ, chịu khó phục vụ đại chúng. Thế là sư xách nước, giã gạo, bửa củi, nấu cơm, lo liệu mọi việc trong chùa, có lúc cũng cùng với chúng tham thiền học đạo, đàm luận cổ kim, mọi người đều không biết sư là một vị Tăng tài xuất chúng.
9.14. Làm việc không từ lao nhọc
Triều nhà Tống, tại Đông Kinh, có Thiền sư Huệ Lâm Viên Chiếu Tông Bổn.
Sư họ Quản, tự Vô Triết, người Vô Tích (Giang Tô) Trung Quốc. Năm 19 tuổi nhập môn Thiền sư Đạo Thăng chùa Vĩnh An ở Thừa Thiên, Tô Châu, khổ tu 10 năm mới cạo tóc thụ giới cụ túc, lại siêng năng hầu hạ thêm ba năm, thường mặc áo rách, đầu mặt dơ bẩn, làm việc xách nước, giã gạo, nấu cơm cúng dường đại chúng. Tối đến sư vào thiền đường học đạo với đại chúng.
Thiền sư Đạo Thăng nói với Sư: “Người khổ hạnh kia! Thầy làm việc phục vụ đại chúng thật là vất vả, khổ nhọc không biết mệt mỏi sao”? Sư trả lời: “Một người tu hành nếu bỏ mất một việc lợi ích cho chúng sanh mà không đi làm thì không thể gọi là tâm Bồ đề viên mãn được; con nghĩ suốt cuộc đời này con chỉ làm việc này cũng không dám nói là mệt nhọc”!
Sau bái biệt Đạo Thăng, sư đến chùa Cảnh Đức ở Trì Châu (Qúy Trì, An Huy) tham kiến Thiên Y Nghĩa Hoài có chỗ khế ngộ. Được Nghĩa Hoài sai đến chùa Thụy Quang ở Tô Châu khai pháp, pháp tịch ngày một thạnh, đồ chúng lên đến năm trăm người. Sư dời sang chùa Tịnh Từ ở Hàng Châu, đạo tục ở Tô Châu lại thỉnh sư đến hai chùa Vạn Thọ, Long Hoa hoằng pháp, kẻ ngưỡng mộ hơn ngàn người. Niên hiệu Nguyên Phong thứ 5 (1082) phụng chỉ làm Tổ thứ nhất Huệ Lâm Thiền sát chùa Tướng Quốc. Vua Thần Tông triệu thỉnh đến cung Diên Hòa hỏi đạo. Đến đời vua Triết Tông ban hiệu “Viên Chiếu Thiền sư”. Niên hiệu Nguyên Hựu thứ 1 (1086) sư lấy cớ già cả xin về quê, khi ra khỏi đô thành, người đưa tiễn đông vô kể. Lúc chia tay sư có lời dạy bảo người nghe cảm động rơi lệ. Tuổi về chiều sư trụ chùa Linh Quang ở Bình Giang (Tô Châu) đóng cửa tu thiền. Sư giữ giới thanh tịnh, học thức rộng, giỏi văn chương. Đệ tử có Đại Thông, Thiện Ninh, Pháp Chân, Chân Ngộ v.v…
📢 Lời bình:
Làm việc cực nhọc cho đại chúng mà vẫn không quên học vấn, đàm luận cổ kim; quản lý mọi việc trong nhà trù mà vẫn không quên tham thiền học đạo, kham nhẫn nhiều việc khổ nhọc trác tuyệt như vậy. Người xuất gia ngày nay, nhàn rỗi không làm việc gì mà vẫn tiếp nhận của cúng dường của Phật tử, còn nói: “Tôi là người chuyên tu, làm nhiều việc”. Ôi, như thế với người xưa thật sai biệt quá xa!
9.15. Thường hành khất thực
Thời Nam Triều, đời nhà Tống, có Thiền sư Đạo Pháp, người Đông Hoàng, chuyên tu thiền. Sau sư du học đến Tứ Xuyên, Thành Đô. Các ông Vương Hưu, Phí Giám… thỉnh sư trú trì chùa Hưng Lạc và Hương Tích. Sư dạy đạo có phương pháp, thường thực hành hạnh khất thực, nhưng không nhận thỉnh cúng một mình (biệt thỉnh), không ăn trước đại chúng. Thức ăn sau khi dùng thừa sư đem bố thí cho các loài động vật, côn trùng, chim, thú… Buổi tối sư cởi y ở trần bố thí máu cho muỗi mòng… Sau đó, có một hôm sư nhập định, ở trong định sư thấy đức Phật Di Lặc phóng hào quang chiếu soi quả báo trong ba đường địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh. Ngay sau đó, sư càng tinh tấn tu hành, suốt đời không nằm. Vào đời Tống Phế Đế, niên hiệu Nguyên Huy thứ 2 (474), sư ở trong định thị tịch.
9.16. Hành cước
Tôi trước đây, lúc còn là một người hành cước tham học bên ngoài, thường kham chịu đói khát, bất chấp lạnh lẽo hoặc nắng nóng, trải qua vô số khổ nạn. Hiện nay may mắn có được một am tranh để ở. Tuy nhiên tôi không biết được việc tu hành, chỉ biết xấu hỗ thôi. Một vị Tăng vân du sơn thuỷ, hành cước tham vấn đến chùa mình, thì nên đối xử với họ lễ phép, ân cần, hầu hạ cúng dường. Bản thân tôi vốn không dám thọ dụng của người ta quá đáng. Thật sự đã từng là người lưu lạc bên ngoài, cho nên đặc biệt thương xót, cảm thông những khách Tăng bên ngoài đến. Bần cùng phấn đấu mà sáng nghiệp thành công, cho nên, tuy đất cát cũng như vàng bạc phải quý trọng nó như nhau. Người xuất gia ngày nay một khi bước vào cửa Phật liền được ở chùa, viện đã xây dựng sẵn, mọi việc đều như ý, không lao tâm tổn sức, giống như người phú quý, không biết được những thống khổ trong dân gian, dù cho tài trí siêu nhân, không lo tu học, chỉ đóng cửa tự đại, giậm chân tại chỗ, lâu ngày nuôi lớn tập khí cống cao ngã mạn, tăng trưởng tập tính vô minh, như vậy tổn thất, thiệt thòi cũng không phải nhỏ!
9.17. Cấp tham cấp ngộ
Cư sĩ Phóng Ngưu, người Hàng Châu, họ Dư, tham học với Thiền sư Vân Môn Huệ Khai, ở Long Hưng, Hoàng Long. Vào năm Thuần Hữu (1241-1253), đời vua Tống Lý Tông, thời Nam Triều, được khai ngộ. Ông có viết một đoạn văn như vậy: “Người thông minh trên đời mới nghe qua một lần việc ‘sanh tử sự đại’ này liền dùng Tâm - Ý - Thức để lý giải, cho rằng như vậy là đã nhận thức được bổn lai, hiểu được bổn tánh, cho nên, giống như đem hình nộm mà làm người thật, chính như bài kệ của Thiền sư Trường Sa Cảnh Sầm hiệu Chiêu Hiền, ở Hồ Nam đã nói:
Học đạo chi nhân bất thức chân Chỉ vi tùng lai nhận thức thần
Vô thuỷ kiếp lai sanh tử bổn Si nhân hoán tác bổn lai nhân.
Tạm dịch:
Học đạo lâu nay chẳng tỏ nguồn
Chỉ vì tâm thức nhận biết suông
Gốc rễ tử sanh vô thỉ kiếp
Đào lên trồng xuống vẫn in tuồng.
Và ngài Vĩnh Gia Huyền Giác đại sư cũng nói: “Tổn tài pháp, giảm công đức, không có cái nào không do tâm-ý-thức này”. Cho nên, chủ đích của Thiền tông là xa lìa tâm ý thức mà tham thiền. Như trong kinh Lăng Nghiêm có nói: “Dẹp bỏ hết mọi thứ thấy nghe hay biết, bên trong giữ lấy sự vắng vẻ thanh nhàn, như pháp trần phân biệt cảnh sự”. Phải nghiên cứu tinh chuyên ý nghĩa huyền diệu cho sáng tỏ, rốt ráo giác ngộ, nếu không được như vậy thì đợi đến lúc lâm chung, hồn lìa khỏi xác mới đến xin lão Diêm vương: ‘Hãy đợi tôi một lát, để tôi thanh lọc thanh tâm, nhiếp phục vọng niệm đã rồi sau xin đi với ông’! Muộn màng như vậy, ngàn vạn lần không được. Phải nhanh chóng tu học, sớm được khai ngộ mới tốt.
Mấy lời nói này của cư sĩ Phóng Ngưu có thể nói là cảnh tỉnh người học đạo! Nếu thực sự là người đại triệt đại ngộ thì họ sống một cuộc đời thong dong tự tại, cái gọi là ‘bát phong’ thổi không lay động, vô thường sanh tử, an nhiên tự tại, không vội vàng, không sợ hãi, hà tất phải đợi thanh lọc tâm, nhiếp vọng niệm, miễn cưỡng xin thoái thác ư? Cho nên, điều gọi là ‘cấp tu cấp ngộ’, chúng ta là người tu hành nên nỗ lực tìm cầu.
TỔNG LUẬN
Thánh hiền luôn răn dạy rằng: “Không nên phóng dật”. ‘Dật’ là đại giới của người quân chủ, từ xưa đều lấy sự siêng năng, ân cần mà hưng quốc, do phóng dật mà mất nước. Chương “vô dật’ trong Kinh thư, là do ông Chu Công lo lắng Chu Thành Vương mới lâm chính phóng dật mà soạn ra. Nhà Phật cũng nói một câu răn giới như vậy: “Cẩn thận chớ có buông lung”. Cho nên, người cầu pháp phải vì pháp mà quên đi thân mình, người vì lợi ích chúng sanh phải vì chúng sanh mà quên đi bản ngã của mình. Người xuất gia trẻ ngày nay, mười ngón tay không đụng đến một giọt nước (ý nói không làm gì cả), không quan tâm đến bất cứ việc gì, bảo nó rửa bát, nó nói: ‘đau tay’; bảo nó cầm chỗi quét nhà, nó nói: ‘đau lưng’; bảo nó sớm tối siêng năng tu học, nó nói: ‘Thân tôi nhiều bệnh quá, không có cách gì để hành trì tu tập được’. Có lúc mới dạy nó vài câu, nó lại nói: “A, Ngài không biết kẻ ngu thì dùng sức, kẻ trí thì dùng tâm, người ngu thì tu phước, người trí thì tu huệ sao”? Ôi trời! Nếu như vậy thì không những tôn giả Ca-diếp tu khổ hạnh là người ngu, Lục Tổ giã gạo, bổ củi cũng là người ngu, mà ngay cả Phật đà không bỏ mặc các Tỷ-kheo mắt yếu giúp họ may vá y áo há không phải cũng là người ngu sao!?
Chương 10 CẢM ỨNG
(đọc thêm ở link NGUỒN)
NGUỒN
GHI CHÚ
Footnotes
-
Trái lịch hình tròn, lớn bằng đầu ngón trỏ, vị gắt, vỏ cứng, nhân giống như thịt hạt sen già, có thể ăn được, vỏ có thể làm thuốc nhuộm. ↩